mardi 7 juin 2016

chuyện trái vải rừng




                                                                  


Chuyện trái vải rừng

    Sau một năm ở Long-Giao - Long Khánh , chúng tôi được lệnh chuyển trại để đến ‘’ một nơi thuận lợi hơn cho việc học tập ‘’ .

Chúng tôi được chở bằng Molotova đến Tân cảng , rồi từ đó di chuyển bằng đường thuỷ . Khoảng  3.000 cải tạo viên chen chút nhau  trong lòng chiếc Sông-Hương được đậy nắp chỉ chừa khoảng hở hơn 1 mét  để không khí vào .



tàu Sông Hương  ( Việt Nam Thương Tín trước 1975)


Mọi người đều nghỉ ‘’ có lẻ  sẽ được chuyển ra Phú-Quốc ‘’vì nơi đây trước 1973 ( trước khi hiệp định Paris được ký kết ) có một trại nhốt khoảng 50.000 tù binh Cộng-Sản . Phần tôi , vì là Hải-Quân quen nhìn phương hướng  , nên khi tàu ra đến biển vào buổi sáng , thấy ánh sáng mặt trời từ tay phải chiếu sang , tôi nói với những người bên cạnh rằng  tàu đang đi về hướng Bắc  . Tin lan đi , nhiều gương mặt bổng  đăm chiêu , nhưng cũng có nhiều người chưa tin , họ đề nghị tôi nên kiểm chứng lại . Họ sắp xếp để tôi và một người khác khiêng thùng phân và nước tiểu lên bong tàu để đổ xuống biển .
Khi trở xuống , tôi xác quyết về điều tôi đã nói trước đó . Mọi  người đều lo lắng và buồn bả , nhưng dỉ nhiên cũng có một số bán tín bán nghi .Phải đợi đến khi tiếng loa từ trên bong  tàu vọng xuống ‘’ long trọng báo cho các anh , chúng ta đang tiến vào lảnh thổ miền Bắc Xã-Hội Chủ Nghĩa ‘’, chừng đó mới không còn ai thắc mắc .

    Sau khi rời chiếc Sông-Hương , chúng tôi được chuyển về miền Thượng du Bắc Việt , khi thì bằng xe lửa , khi bằng Molotova , khi bằng phà , khi đi bộ ... và được dàn chào thật kỷ : bị  ném đá vào toa xe lửa  , bị mắng chửi dọc lộ trình di chuyển ... v.v .

    Đến  Yên-Bái , 300 đứa chúng tôi được đưa đến một  khu trại đang xây dở dang gồm 3 lán ( nhà dài )   . Tôi may mắn được ở trong 1 lán đã có nóc và sạp nằm đan bằng nứa . Trong khi một người bạn H.Q của tôi được ở trong 1 lán chỉ mới có nóc . Lán anh lại nằm sát cạnh 1 cái ao nước đọng . Ngay buổi sáng hôm đó , đội anh được cung cấp dao để chặt phát cây , cỏ mọc quanh ao . Đến chiều , số người phải lội xuống hay dẩm nước dưới ao bị sốt vàng da và đến tối thì  đã có 1 người chết . Riêng anh bạn tôi , tuy cũng  bị sốt  và đái ra máu , nhưng may mắn  thoát chết ( hiện anh đang ở California ) .

Thời gian tôi ở trại này  không lâu , nhưng cũng có vài chuyện ngồ ngộ :

  •           Số là 3 lán của trại tôi được xây theo hình chữ  U  . Mỗi khi sinh hoạt , các đội đều tập hợp ở sân nằm giữa 3 lán , nhưng anh Quản Giáo của đội tôi lại luôn dẩn đội lên 1 cái đồi nhỏ cách đó hơn trăm mét , để nói chuyện không theo đường lối của đảng C.S và nhất là để chửi  bọn Trung Cộng ( không biết anh có vấn đề gì mà luôn xỉ vả bọn Tàu , trong khi chế độ C.S thời đó luôn ngoác mồm là đồng chí vĩ đại Trung Quốc ) .
  •            Anh Quản Giáo  của đội tôi là 1 Thượng-Uý  Đặc Công  thuỷ , không biết xét lý lịch của tôi H.Q , chắc nghĩ là ‘’ bà con ‘’, một hôm anh gọi tôi ra nơi anh ở trọ nhà của dân để làm mộc . Tôi cho biết là không biết gì về mộc . Anh bảo cứ đi theo anh , nhưng thật bất ngờ tôi không phải làm gì cả mà chỉ đến để nghe nhạc vàng Thanh-Thuý  hát  .Vài tuần lễ sau , anh bị thuyên chuyển .






trại tù VC


   Phần tôi , khoảng tháng sau lại phải chuyển trại . Chúng tôi được biên chế từ 14 trại tù trong tỉnh Hoàng-Liên-Sơn ( chúng tôi gọi đùa với nhau là cuộc tuyển lựa tài tử thượng thặng ) gom về  Trại 10 . Trại tôi có một số nhân vật khá nổi tiếng như : Phan-Nhật-Nam , Phan-Khắc-Huồn ( G.Đ Chương Trình Tiếng Gọi Tình Thương ) , Lê-Quang-Văn ( em Ông Ba Cụt Lê-Quang-Vinh ) ,...v.v .và đa phần là các vị Tuyên-Uý  .

    Thời này , bộ đội còn quản lý chúng tôi nên cuộc sống  tương đối dễ thở . Chúng tôi chỉ phải lao động  mỗi tuần từ thứ hai đến trưa thứ bảy , chủ yếu là xây dựng nhà cửa , phát quang , trồng sắn ( khoai mì ) ... và học tập chính trị .








    Chúng tôi được chia thành Đội  và Tổ để lao động và học tập . Tôi bị chỉ định làm tổ trưởng  của 1 nhóm  15 người gồm 1 Trung Tá thuộc P3/TTM , 1Trung Tá TP2/SĐ2 BB , em Ông Ba Cụt ( biệt danh là Tướng Cướp Bảy Ớt ) , 1 Đại Uý  SĐ7 BB , 1 Đại Uý ĐPQ  , số còn lại là các vị Tuyên Úy  .

    Ngày đầu , tôi nhận lệnh dẩn tổ đi đẵn chỏm , chỉ tiêu mỗi người một bó .Từ đẵn thì trong thơ của Bà Huyện Thanh Quan : tiều phu vài gả đẵn cành  , tôi hiểu được , nhưng  chỏm là gì tôi chịu thua , hỏi Cán Bộ Quản Giáo thì được biết là một loại cây giống như cây nứa , nhưng chúng tôi chỉ được phát mỗi người 1 chiếc liềm . Hỏi thì được trả lời  là chưa có dao , phải khắc phục  ! .

    Hôm sau, Tôi nhận lệnh dẩn tổ đi đốn bồ đề ,chỉ tiêu mỗi anh 2 cây . Chúa ơi ! gần nhà tôi ở Phú-Nhuận có chùa Quán Thế Âm ( chùa do Hoà Thượng Thích-Quảng Đức trụ trì ) có cây bồ đề to tổ bố . Cả tổ chưa chắc đã chuyển nổi 1 cây , làm sao mà mỗi anh phải đem về 2 cây . Tôi nêu thắc mắc  và được giải thích rằng tuy có trùng tên nhưng chẳng dính dáng gì với cây bồ đề ở miền Nam , bồ đề ở miền Bắc là một loại cây công nghiệp dùng làm giấy và xuất khẩu  . Thân cây suông , thẳng , cao khoảng 15 mét , đường kính có khi đạt đến 4 tấc .

    Thời này , chủ yếu là xây cất trại . Trước kia , chúng tôi đều xuất thân từ đi học , rồi đi lính , làm công chức , đi tu ... có ai là thợ mộc , thợ nề gì đâu . Bổng dưng lại  thành thợ xây cất  bất đắc dỉ  . Có điều thật ngộ là kể cả xây lán ( thường 20 mét dài , 5 mét ngang ) cũng không bao giờ có tí gì là kim loại , tất cả đều là nguyên liệu cung cấp bởi thiên nhiên : dây buộc thì có mây rừng , lạc giang ; cột ,kèo thì dùng gổ ; còn tre , nứa , chỏm thì chủ yếu dùng làm rui , mè , lợp mái nhà , làm sạp nằm , làm vách ( nứa chẻ cột thành thưng , rồi trát bằng bùn nhồi với cỏ ) . 
Sau khoá xây cất này , khi được thả về , tôi nghiểm nhiên thành chuyên viên giúp hàng xóm trong việc xây cất thật ngon lành .

    Ngoài việc lao động , mỗi tối chúng tôi còn phải họp tổ để kiểm thảo , bình chọn cá nhân xuất sắc , học lại 5 , 6 bài chính trị rập khuôn như hồi còn ở miền Nam , cũng với những lời khoác lác , ngớ ngẩn như ‘’ các đồng chí phi công anh hùng của ta đem MIG lên trên mây , rồi tắt máy , phục kích chờ con ma (phantom ) , thần sấm ( Thundershift ) của Mỹ đến , vồ lấy , bắt cả giặc lái Mỹ ...v.v  ...’’ . Chúng tôi đã vổ tay như sấm nổ và cười ( thầm ) đến ra nước mắt .








trồng khoai mì - ăn khoai mì

  Về việc ăn uống của chúng tôi thì tệ hơn khi còn ở trong Nam nhiều . Nếu trước kia tuy phải ăn gạo sâu , mục nhưng không phải độn và hàng ngày được chút cá biển , rau bí..., thì nay không có hạt gạo nào , chỉ toàn bắp xay , bo bo , khoai mì  , thỉnh thoảng mới có bánh mì luộc ( bột mì nhồi với nước  , nắn thành bánh như bánh tiêu rồi đem luộc ) và tí canh kho ( vài cộng rau với nước muối ) .

    Chúng tôi tuy có chăn nuôi một bầy lợn và trồng khá nhiều rau , nhưng chủ yếu là để cung cấp cho Đoàn ( tức BCH/Liên Trại ) và nuôi bộ đội , nên hầu như chẳng có phần cho chúng tôi .Có điều lý thú là nhờ sự chỉ đạo xuất sắc của họ mà chúng tôi được hưởng hầu như trọn đàn lợn . Số là họ bắt chúng tôi xắt chuối rừng , nấu với rau trai , vỏ sắn , muối  rồi đem cho heo ăn . Họ không biết rằng  trong vỏ khoai mì có chứa rất nhiều acide Anhydric  vô cùng độc hại , đàn heo ăn phải kể cả những con heo gấu ( gần giống với lợn rừng ) lần lượt chết sạch .

    Trong việc nuôi heo  có một chuyện thật đáng thương tâm, đó là việc 1 anh Tuyên Uý Phật Giáo phụ trách nuôi heo . Anh  đi tu từ còn bé ,dáng thật lực lưởng , hàng ngày có nhiệm vụ đi đốn  chuối rừng về nuôi heo , nhưng vì luôn đói do khẩu phần quá ít , mỗi hôm anh lén ăn sống lỏi vài cây chuối rừng , hậu quả là một thời gian sau , bụng anh bị chướng lên to như  bụng phụ nữ có thai 5,7 tháng  và cuối cùng là anh từ giả cỏi đời .




khóc Bạn



            Bản thân tôi cũng  gặp nạn trong thời gian này . Như ở bất kỳ  trại cải tạo nào , vấn đề vệ sinh đều thật tồi tệ  . Cơm , canh nhà bếp vừa múc ra khỏi chảo là hàng đàn ruồi đã nhào vô kiếm ăn , dỉ nhiên là trong cơm , canh lại có thêm vô số’’ đậu đen’’. 
 Tôi không may  nên bị    kiết , mỗi ngày phải đi ngoài hàng chục lần ( có hôm hơn 30 lần ) chỉ toàn đàm với máu . Người tôi gầy tọp , chỉ còn da bọc xương , có khi không còn đủ sức để ngồi dậy giăng chiếc mùng , phải nhờ anh bạn giúp cũng như xuống suối giặt giùm quần áo . Dù vậy , tôi vẫn phải lao động , ngồi tại chỗ để chẻ lạc .Thuốc men thì chỉ có xuyên tâm liên nên bệnh tôi ngày càng trầm trọng . 
Tuy nhiên số tôi chưa hết nên khi họ định chuyển tôi đến trại cách ly  ( tù bị kiết ở các nơi , chuyển về đây để chờ chết và để không lây cho tù khác ) , tôi đã buộc miệng đề nghị cho được  ở lại  Trại với lý do ở đây Cán Bộ Quân Y chăm sóc cho một mình tôi chắc chắn sẽ hữu hiệu hơn ở trại cách ly quá đông người . Có lẻ lời tôi đã vuốt ve tự ái của anh cán bộ Quân Y , anh có vẻ hài lòng nên quyết định giữ tôi lại . 
Thêm một điều may mắn khác là hồi còn nhỏ tôi rất thích nghiên cứu về dược thảo , tôi biết được  lá thúi địch ( còn gọi là lá mơ ) trị được kiết nhiệt , quanh trại tôi lại có mọc thật nhiều loại lá này , thế là hàng ngày  tôi hái lấy  ăn sống như heo ăn cỏ và rồi tôi hết bệnh .




lá thúi địch

      Trong năm đầu nơi đất Bắc , chúng tôi chưa được phép liên lạc với gia đình nên chưa được tiếp tế , khẩu phần ăn lại quá ít , do đó bị đói kinh niên . Bộ Đội ít hắc ám hơn Công An nên cho phép chúng tôi được tự động cải thiện thêm ( từ cải thiện có nghĩa kiếm cái gì để ăn thêm )  và chúng tôi đã tận dụng chiều thứ bảy và chúa nhật không phải lao động  để đi kiếm ăn . Thường thì hái lá mối vò làm sâm ăn hay đi kiếm rau . Phần tôi luôn với 2 bao ( bao chứa cát làm công sự  phòng thủ ) , 1 để chứa rau má , 1 để chứa lá lốt  ăn dần trong tuần .




lá lốt



rau má

    Sở dỉ tôi luôn hái thật nhiều lá lốt vì lý do sau đây . Anh Trung Tá TP2/SĐ2BB trong tổ tôi tuy đã lớn tuổi nhưng còn thật khoẻ . Có lần tôi đùa bố Q lớn tuổi mà lao động khoẻ còn hơn cả thanh niên trẻ  . Anh trả lời cậu nói thế chớ trước kia có lần tôi bị bệnh gần như bán thân bất toại đó .Tôi hỏi tiếp thế Bố làm sao khỏi . Anh cho biết vì gia đình khá giả , nên ai bày cho thuốc tây , thuốc ta, thuốc bắc gì cũng đã thử qua , nhưng phải đến khi  dùng thật nhiều lá lốt nấu uống một thời gian dài mới khỏi được bệnh .




cây trái vải

    Rồi một  việc không may khác xảy đến trong trại chúng tôi thật khủng khiếp . 
Trong khu vực trại  có một cây vải rừng ( còn có tên khác là vải thiều hay vải guốc ) , có lẻ mọc từ lâu đời nên thân cây thật to , tàn lá sum sê và có thật nhiều trái , nhưng vì từ gốc lên cao khoảng 4 thước  thân cây không có nhánh và vỏ cây thật trơn láng  nên chỉ có khỉ và chim ăn trái vải , còn con người thì chưa ai leo lên được . 
Cho đến một sáng chúa nhật nọ có 1 Tuyên Uý  Công Giáo ( Cha N.Q.T ) không biết làm cách nào anh ta leo lên được và một mình một cỏi tha hồ hái vải cho vào bao .Một số người cũng cố leo lên nhưng đều thất bại . 
Tôi cũng thử và cũng không thành công . Tôi vốn sanh trưởng ở miền quê , leo trèo giỏi , thế mà đành bó tay , thật đáng tức , nhưng không bỏ cuộc , tôi bảo một anh bạn kê vai nâng tôi lên và thêm một ít cố gắng cuối cùng tôi thành công . Tôi hái thật nhiều vải cho vào bao mang theo , nhưng đồng thời cũng bẻ thật nhiều nhánh quăng xuống cho bên dưới .Các bạn tù  xúm nhau vừa nhặt vải , vừa ăn . Có một anh ăn cả hột và phát hiện rằng thật béo như đậu phọng hay hạt điều . Nhiều bạn tù khác bắt chước anh .

    Sau khi đã hái đầy bao ( khoảng vài nghìn trái ) , tôi tụt xuống  đem vải về trại cất , rồi xách cần đi câu cá ( tôi vốn mê câu cá từ khi còn thật bé ) .

    Đặc biệt hôm đó trại tôi được ăn bánh bột mì và mỗi người được lảnh khoảng 100g đường . Thế là một số bạn tù nghĩ ra việc nấu chè  với hạt vải ăn .

Riêng tôi , đi câu đến chiều được vài chục con cá bải trầu và cá lòng tong , tất cả tôi đem kho thật mặn để ăn dần . Xong tôi luộc 1 lon gô ( lon Sửa Guigoz ) hạt vải và nhờ thằng bạn nằm bên cạnh trông giùm , rồi đi gặp Cán Bộ Quản Giáo để nhận công tác của tổ hôm sau .

    Khi tôi trở về lán  thì tất cả anh em đã chui vào mùng , chỉ còn thằng nằm bên cạnh và một anh khác là chưa đi ngủ . Tôi phổ biến công việc  của ngày mai cho mọi người xong rồi lấy vải cho 2 anh chưa vô mùng , mỗi người khoảng trăm trái , những anh tổ viên khác , định bụng ngày mai sẽ cho tiếp . Tôi ăn khoảng  mươi hột vải đã luộc chín , xong đi ngủ , số còn lại  5, 7 chục hột  dành  để  sáng mai  ăn trong khi di chuyển .

    Tối hôm đó , khi ra ngoài đi tiểu , ngang qua một lán bạn , thấy một số đông đang cạo gió , tôi nghĩ thầm là chắc có luồng gió độc , nên khi trở về lán  đã đắp mền thật kỷ kín đến tận cổ . Thế nhưng , sáng hôm sau tôi cũng cảm thấy bị choáng váng .

Hôm đó , tôi phải dẩn tổ đi đến một nơi cách xa trại khoảng 5 , 6 cây số , san bằng một ngọn đồi  làm nền cất nhà mới để chuyển trại . Với cây cuốc chim ,  tôi đã làm việc cật lực , mồ hôi đổ ra như tắm . Ý định của tôi là nhằm giúp cho cơn bệnh lướt qua  .Dù vậy , buổi chiều khi trở về trại , tôi như người say rượu , lảo đảo đi không vững , phải chặt  2 khúc cây nhỏ làm gậy chống . Tôi không hề biết rằng đã trúng độc  vì  ăn những hạt vải . Mải đến khi về đến trại , nghe thông báo từ chiếc loa phóng thanh rằng : ‘’ những anh nào đã ăn hạt vải phải trình diện BCH ngay , để được chở lên Đoàn cứu cấp  ‘’ .

    Tôi không trình diện , nhưng vội vả đem mấy nghìn trái vải còn lại đổ xuống một khe sâu để tránh cho những người bạn tù khác nhặt lấy ăn .



    Số tôi chưa hết , nên may mắn nhờ một quyết định ngẩu nhiên mà phần lớn độc tố đã được mồ hôi loại ra khỏi cơ thể  và tôi được tai qua nạn khỏi .

    Trong khi đó , những bạn tù khác bị trúng độc được chở lên Liên Trại thì có vài người chết , hơn chục  người khác bị điên ( trong đó có anh bạn Tuyên-Uý Phật Giáo nằm cạnh đã luộc giùm tôi gô hạt vải . Tội nghiệp ,  thương anh , nhưng vô tình tôi  đã hại anh . Khoảng 3 tháng sau được trả về trại , anh vẫn còn ngớ ngẩn chưa nhận ra tôi ) .

    Về chất độc chết người thì có rất nhiều , nhưng ăn hạt vải mà trở nên điên loạn thì thú thật đây là lần thứ nhất trong đời tôi được chứng kiến và một điều khác tôi cũng không hiểu nổi là :’’ tại sao biết được ăn hạt vải rừng có thể bị chết , nhưng tại sao BCH Trại 10 CS đã không ngăn cản người tù cải tạo ? ‘’.




   
    Đây chỉ là vài mẩu chuyện đã xảy ra trong năm đầu nơi đất Bắc . Năm sau , chúng tôi được chuyển về Vĩnh-Phú , Trại Tân-Lập K1 do Công An quản lý  - một tầng địa ngục khác  còn khắc nghiệt  hơn gấp nhiều lần .


                                                                           Paris - đông 2007
                                                                  Kỷ niệm một thời đi tù cải tạo
                                                                                    TKD
                                                                                    
                                                                          

lundi 6 juin 2016

tui học võ





Tui học võ
Hồi còn nhỏ , do ảnh hưởng của truyện kiếm hiệp , tui rất mê võ và ước mơ sẽ trở thành cao thủ võ lâm , nhưng quê tui thì không có trường dạy võ  và gia đình tui thì không có ai biết võ .
Dù vậy niềm mơ ước vẫn luôn âm ỉ  trong tui , chỉ chờ có dịp  để thực hiện .

Rồi một hôm , có 2 người lạ không rõ từ đâu , đến tá túc nhà của người hàng xóm tui. Người cha khoảng lục tuần , dáng dấp tiên phong đạo cốt với  5 chòm râu suông đuộc . Không thấy Ông giao du với ai , chỉ thỉnh thoảng vắng nhà vài hôm , nghe nói là đi xem mạch và hốt thuốc cho ai đó ở xa .

Còn người con , tuổi trạc 20 – 25 , thật khôi ngô , tuấn tú  . Anh cũng rất kín đáo .

Một đêm  sáng trăng , nhìn ra cửa sổ  thấy anh đang luyện võ ngoài sân  , tò mò tui ra xem . Thân hình anh chắc nịch , quyền , cước tung ra vùn vụt , đẹp nhất là đường roi loang loáng dưới trăng  . Tui há hốc mồm , ngưỡng phục .
Từ đó , mỗi khi anh luyện võ , thường có 1 chú nhóc  say mê dự khán . Đôi khi cao hứng , anh cho tui lấy đất , cát  cật lực ném vào anh , nhưng đường roi phủ kín thân anh nên không một mảnh nào chạm được vào người  . Anh ngày càng có cảm tình với tui và  tui  hy vọng sẽ được anh nhận làm đệ tử  ; nhưng rồi một hôm , cả 2 cha – con đột ngột ra đi  và không trở lại .

Mất một dịp may  hiếm có  , tui tiếc hùi hụi , nhưng càng nung nấu hơn về việc học võ . Tui bèn thảo phương cách  với mấy thằng bạn cùng trang lứa "học lóm võ ".

Quê tui , tuy không có trường dạy võ , nhưng để kháng chiến chống giặc Pháp , cũng có một số người biết võ . Tui bàn  việc kiếm mồi nhậu để lấy điểm  Ông Thầy võ  , tụi  bạn đồng ý  .

Thế là  thỉnh thoảng  chúng tôi  đi bắt dơi . Dụng cụ gồm 1 chiếc vợt lưới lớn hình chữ Y  cán dài , 1 lồng kẻm để nhốt dơi , 1 chiếc đèn lồng , 1 con dơi mồi . 
Khi  trời tối , chúng tôi đến những gốc cây nhãn , chôm chôm , sa bô chê , mận ... - nơi mà dơi sen  thường đến ăn trái - rồi  bóp cho con dơi mồi đau để nó  kêu la  ; vì rất có tình đồng loại  nên những con dơi đang ăn gần đó sẽ bay xà xuống để quan sát  , khi lọt vào tầm vợt sẽ bị  chụp  và  nhốt vào lồng  . 
Ngày mai , khi rảnh rổi tụi tui tụ lại làm thịt dơi , rô ti với nước dừa xiêm và rắc thêm chút đậu phọng rang , sau đó  mỗi đứa  góp 1 – 2 cắc để  mua rượu đế ,  rồi  đến mời Ông Thầy .

Sẳn mồi , rượu , Ông Thầy chén no nê , đôi khi hứng chí  vung  vài cú đấm , đá cho lủ nhóc lé mắt . Sau đó , tụi tui tụ tập để nhại lại các cú đấm đá  trên  những thân cây chuối vô tội  .

Sau  tiểu học , tui rời quê tiếp tục bậc trung học ở tỉnh . 
Mỹ Tho thì có võ đường  dường như là  lò Nguyễn SON . Tuy nhiên , vì nhà thật nghèo , nội tiền cơm tháng đã là gánh nặng của Mẹ tui nên  buổi sáng ngoài  mận , cốc , ổi ... hái ở quê để ăn độn , tui thường không có  gì để ăn sáng như chúng bạn . Do đó dù thật mê võ  tui cũng chỉ biết tự an ủi bằng cách học võ hàm thụ là luyện chưởng 

.

Mải đến khi  lên Sài Gòn học , dịp may mới đến với tui . 
Nhà tui ở cạnh cái nghĩa trang lớn của người Tàu ở Phú Nhuận . Nghĩa địa này có mặt tiền nằm trên đường Võ Di NGUY , đối diện với cổng số 4 của BTTM và trường Sinh Ngữ Quân Đội. Giữa nghĩa địa là một cái nhà mồ to  chứa hàng trăm bộ cốt , vì trừ những ai có giao kèo vĩnh viễn , còn sau 60 năm thường người ta khai quật mồ lên lấy cốt để có đất chôn người khác  .

Nhà tui lợp tôle , hè nóng bức lại không có quạt máy , nên tui thường  sang  cây cồng thật to cạnh nhà mồ ,  gốc cở 2 người ôm , cách đất khoảng 1,5m có 1 cháng đôi  , tui leo lên đó học bài vừa mát , vừa yên tỉnh . 
Chiều nào ,  cũng thấy có Ông Tàu già cùng  2 người trẻ  dáng dấp VN và 1 tốp gần 20 cô , chú  Tàu con đi vào trong nhà mồ .Tò mò , tui đến quan sát , qua khe cửa thì thấy họ đang tập võ . 
Tui bèn xin thụ giáo  . Lúc đầu Ông Thầy không nhận , nhưng nhờ lũ trẻ hàng ngày đi ngang thấy tui là thư sinh vắt vẻo trên cây học bài cũng ngộ nên đôi khi trêu chọc  , thấy tui hiền lành , chúng nói thêm vô và nhất là nhờ 2 anh người VN xin giùm , cuối cùng tui được nhận .


 Thầy Châu Quản Kỳ


Ông Thầy là võ sư Thiếu Lâm Bắc Phái , là người giàu có ở Trung Quốc , nhưng trong đợt diệt  trí – phú – địa – hào  của Trung Cộng , Ông bị bắt chờ xử tử  . Nhờ trước kia tánh hào sảng , hay giúp người , nên Ông được người thụ ơn lén cởi trói để  trốn sang Hồng Kông  , nhưng sợ bị truy lùng Ông chạy sang VN làm công cho nhật báo Thành Công ở Chợ Lớn . 
Đang từ phú quý , vì thất thế phải làm công nhân và bị xem thường , Ông bỏ việc đến xin tá túc nhà Ông Từ giữ nghĩa địa Phú Nhuận . Rồi những khi buồn buồn , ông múa may những động tác để giãn gân cốt . 
Ông Từ thấy , biết là người có võ , bèn  xin dạy chút đỉnh cho mấy đứa con . Đang thụ ơn người , Ông  Thầy phải  đáp nghĩa . 
Mấy đứa nhỏ con Ông Từ là ngựa non háu đá , biết vài thế võ bèn đem khoe với chúng bạn . Thế là cha-mẹ của những đứa bé này  cùng nhau đến xin Ông Thầy dạy võ  giùm cho lũ trẻ . Để  độ nhật Ông Thầy đồng ý và lấy nhà mồ làm nơi luyện tập .

Riêng 2 người VN thì tui không rõ vì sao lại là đại đệ tử của Ông .
Cả hai anh , học vấn kém tui , nhưng về võ thì họ thật giỏi  . 
Anh tên KÍNH thật xuất sắc về môn đá , nên Ông Thầy biến bài  phích lịch chưởng thành phích lịch cước  truyền riêng cho Anh . Còn Anh Phạm Xuân TÒNG là đại đệ tử thì giỏi cả quyền lẩn cước .
Phần tui , tuy vô sau nhưng do  quyết tâm , nên  thật chuyên cần luyện tập , nhất là những đòn sát thủ như  song long quá hải tức dùng 2 ngón tay móc mắt , gối bay chỏ sập để hạ gục  đối thủ khi bị chộp ngực ...  . 
Ông Thầy quan sát , thấy tui  say mê với những đòn độc hiểm bèn hỏi nguyên do . 
Tui thật thà cho biết là để  trả thù   và  kể lại chuyện xưa  về người hàng xóm gian ác ở quê tui . «  Anh  nông dân này  to lớn , lực lưởng , rất giỏi về trồng trọt nhưng tánh tình thật xấu . Anh thường phá tui bằng cách nhớm những cây xoài , mít , mận ... tui trồng mới vừa bén đất để cây đứt rể chuột  mà chết . Ao cá tra , cá chày , mè vinh , cá he ... Mẹ tui nuôi thường bị anh lén bỏ thuốc chống ruồi , muỗi hiệu Mytox khiến cá chết sạch ; ngoài ra lúc nào anh cũng tìm cách để lấn đất nhà tui . Hè năm tui khoảng 16- 17 tuổi , như thường lệ tui về quê phụ giúp Mẹ  làm bánh bán . Những khi rảnh rổi , tui hay đi rong thăm nom  vườn tược , phòng kẻ xấu hái trộm trái cây  . Có lần tui bắt gặp Anh hàng xóm này đang đào đất vườn tui thảy qua vườn của anh .Tui phản đối , anh sừng sộ và định đánh tui .Tui thật tức bảo : anh sai trái lại ỷ lớn làm càn , giờ tui không làm gì được , nhưng rồi anh sẽ biết tay tui . Do đó , tui đã quyết tâm học võ để về trị tội anh « 
Nghe xong , Ông Thầy bèn giảng một mạch  về đạo lý của người học võ , tui thắm thía và từ đó bỏ ý định trả thù người hàng xóm gian ác dưới quê  .

Khoảng năm 1965 , Anh đại đệ tử P.X.T rời VN sang Pháp sống , còn Anh K thì bận học thi nên cũng ít khi đến luyện võ , tui thay 2 anh phụ Thầy chỉ dạy cho các em nhỏ nên được Thầy ngày càng thương   . 
Có lần tập về ngạnh công , tui vừa chặt gảy 1 cục gạch , Ông Thầy khuyến khích «  nị có thể chặt 2 cục gạch «  . Tui nở to mũi ,  không tập trung xử dụng chính xác bàn tay , nên thay vì gạch bể thì ngón tay út của tui lại sưng vù . 
Ông Thầy thương  cho thuốc rượu để xoa bóp , ngoài ra còn  cho cả toa thuốc nghe nói gốc của dòng họ Mả Viện để pha chế . Tiếc là khi tui đi lính đã gởi chiếc rương cho Cô tui  ở Chợ Lớn  và năm tết Mậu Thân nhà Cô tui bị  VC  đốt , cái rương tui gởi trong đó có những đồ quý như toa thuốc rượu , cục  «  ngọc rắn « … cũng bị cháy rụi .





Năm 1966 , tui gia nhập Khoá 17 SQHQ ở Nha Trang , phải xa Thầy trong niềm luyến tiếc  . Hai năm sau  có dịp về Sài Gòn tui đến thăm  thì Thầy  đã khuất núi .

Nơi quân trường , ngoài những môn học liên quan về HQ , trong 2 năm chúng tôi còn phải học môn võ Thái Cực Đạo - Tae Kwon Do -  do những võ sư Đại Hàn huấn luyện  .
Một Ông  Thầy  là Trung Uý LEE thật cao lớn nhưng  rất cởi mở . Có lẻ cũng giống tui là rất ghét sự trịch thượng của người Mỹ  nên có lần Ông đã mượn rượu để gây sự và đập gục mấy SQ Mỹ trong câu lạc bộ SQ đồng minh và  bị trục xuất về nước  . 
Ông Thầy khác là Thiếu Uý KIM , không lớn con nhưng cũng rất giỏi , mặt Ông thật nhiều mụn -  chắc tại ăn nhiều kim chi  - tui không thích Ông chút nào .

Võ Thiếu Lâm thì trọng cả cương lẩn nhu và khi công thì bao giờ cũng phải thủ , còn TCĐ  thì chuộng cương và nặng về công  . 
Tuy không thích TCĐ lắm , nhưng tui cũng chuyên cần luyện tập . Có điều lạ là sau 1-2 lần thi lên đai thì các SV thậm chí có Bạn thường nằm Bệnh Xá ,  đều lên đai , còn tui không hiểu sao vẫn đai trắng cấp 8  .

Do thiếu phương tiện nên nơi chúng tôi tập võ là 1 cái nhà vòm lớn , lợp tôle  , sàn  xi măng , không có bao cát mà chỉ có những cọc gổ đầu cọc quấn bao bố để võ sinh đấm đá  . Ngoài những bài quyền chúng tôi cũng luôn tập song đấu . 

Riêng tui , nhiều lần phải song đấu với Ông Th.U KIM . Phần tức vì không được lên đai , phần nực vì khí trời oi bức , có lần song đấu với Ông ta , tui đã chơi xấu  dùng đòn thu phong tảo lạc diệp  của Thiếu Lâm bất ngờ đá quét chân làm Ông xính vính , đòn kế tiếp thay vì đưa gót chân vào mặt đối  thủ  ,  tui lại đá vào hạ bộ của Ông  - đây là điều cấm kỵ của người học võ . 
Ông gạt chân tui , rồi tức giận phản đòn , cước thứ nhất bị đá vào mặt , tui dùng tay trái đở , cước thứ hai lại đến , tui gạt bằng tay phải và trong khi 2 tay còn lơ lửng thì cước thứ ba tới mặt , tôi phải dùng tay mặt đở ngược nên bị lọi ngón tay cái  , Ông ta vẫn chưa tha , đá cước thứ tư vào hạ bộ tui , lần này thì hết đở và tui bị hạ gục . 
Đúng là đầu tiên tui đã chơi xấu , nhưng tui chỉ là võ sinh còn Ông là Võ Sư , thiệt tình tui không phục Ông .

Rồi một hôm , giận cá tui chém thớt  . Tui giở võ Thiếu Lâm ra dợt một SV bạn , anh này cao lênh khênh , mang đai xanh cấp 6 , cấp 5 gì đó , còn tui chỉ 1m65, đai trắng . Không ngờ có Ông Thiếu Tá Trưởng Nhóm Huấn Luyện Đại Hàn đứng quan sát ( có lẻ hôm đó Ông thay cho vị võ sư HL vắng mặt )  . Thấy lạ , Ông vổ tay khích lệ khiến Anh Bạn tui càng điên tiếc , mất bình tĩnh và càng lảnh đòn 

Ngày nay nghĩ lại về thời  tuổi trẻ háo thắng , tui thật xấu hổ .

Không hiểu sau đó Ông Th.Tá có chỉ thị gì không , mà mỗi lần thi lên đai tui đều được thăng 2 cấp và cuối cùng thì mang đai nâu cấp 1 , trong khi nhiều Bạn khác  giỏi hơn thì được nhất đẳng huyền đai .
Đến 1975 , do số được ở tù nên ngày 29 tháng 04 , tui không ra đi  như phần lớn bạn bè mà rời Vũng Tàu về Sài Gòn để sau đó đi «  cải tạo «  .

Năm đầu ở Long Giao – Long Khánh , VC chưa siết bù lon , tù cải tạo chỉ quanh quẩn việc làm vệ sinh lán trại và học vài bài chính trị tầm phào . Thời giờ còn lại thì cặm cụi «  sắm quà «  cho người thân như làm lược , vòng semaine , đào hà thủ ô , ............và gải ghẻ ( thời này dịch ghẻ hoành hành khủng khiếp) . 
Bản thân tui cũng hoà nhịp với mọi người  , nhưng đôi khi rảnh tui cũng làm vài động tác để giãn gân cốt .

Có lần , một Anh Bạn tù cùng lán thấy tui xử dụng  cầm nả thủ  , Anh là người phái Dịch Quyền Đạo cũng rất sở trường về CNT . Thế là Anh thân với tui và bày cho tui cách khởi động của DQĐ tức pháp xoay khớp tay , chân , mình , cổ . Thấy hay ,từ đó đến nay ngày nào tui cũng tập nhờ vậy mà không bao giờ bị nhức mỏi ngay cả thời  ở tù ngoài Bắc với «  chính sách khô máu «  của VC .
Năm 1976 , chúng tôi bị chuyển ra Miền Bắc để Công An quản lý , thời này quả là «  địa ngục trần gian «  , tù bị đối xử còn thua con vật  . Trừ «  lao động là vinh quang «  tất cả gì khác đều bị cấm .

Tuy nhiên một bạn tù là Võ Sư Hắc Hổ thuộc Tổng Cuộc Quyền Thuật VNCH , không hiểu vì sao Anh mến tui , luôn lén chỉ cho những thế võ vô cùng độc hiểm ; nhưng tất cả người tù ai cũng đều bị đói phờ người và chỉ mơ ước «  được ăn «  , do không hứng thú nên tui cũng chỉ học qua loa để  Anh Bạn HH khỏi  buồn lòng   .


 Võ Sư Phạm Xuân Tòng

Rồi khi vượt biển sang định cư ở  Pháp , năm 1985 tui liên lạc được với người đại sư huynh , Anh P.X.T  lúc đó đai đen 8 đẳng TL , là Chưởng Môn phái Qwankido ở Toulon ( để nhớ ơn Thầy chúng tôi tên là Châu Quản Kỳ  ) . 
Hàng năm , Anh thường trình diễn ở đại hội võ thuật Bercy thuộc Q12- Paris . Dù đôi mắt được bịt kín nhưng với sự chuẩn xác tuyệt vời , cây kiếm của  Anh luôn chém đứt ngọt những trái khóm đặt ở đỉnh đầu hoặc cổ họng  của 3 người ở 3 vị trí khác nhau  .

Tui không may , định cư ở Pháp đúng vào lúc Đảng CS Pháp cực thịnh , nên phải vô cùng vất vả để mưu sinh , đêm 12 tiếng bán xăng , ngày thêm nửa buổi đi phụ đóng bàn ghế  , thời giờ ngủ nghĩ còn không đủ  có đâu để mà học võ . 

Tuy sau đó , cuộc sống ngày càng thong dong hơn , nhưng tui không còn lòng dạ nào để theo đuổi giấc mơ  như hồi còn trẻ .

Ngày nay , tuổi đời đã xế bóng , bầu nhiệt huyết  đã cạn kiệt , tui chỉ còn xem những miếng võ mèo quào học được  như phương tiện để  tự tin cũng như dùng để hổ trợ cho các môn khác như thiền , dịch cân kinh , thể dục ...  mà tôi tập hàng ngày cho có sức khoẻ tốt  .
      Paris  2014
            TKD


mercredi 13 avril 2016

Chuyện dài cải tạo



Chuyện dài cải tạo
Sau 1 năm  luyện chưởng  ở  « U Tịch Cốc « thuộc Trại 10 -  Đoàn 776 Hoàng Liên Sơn  , tôi được chuyển về Trại K1 – Tân Lập – Vĩnh Phú do  Công An quản lý .

Tuy có tên là Tân Lập , nhưng trại này đã có từ lâu . Trước 1954 là nơi nhốt  tù binh Pháp  . Sau hiệp định Genève thì dùng giam  thành phần  địa chủ , phú nông  và những người làm việc cho Pháp hoặc Chính Quyền Quốc Gia .

Tỉnh Vĩnh – Phú có 2 trại tù lớn : Vĩnh Quang và Tân Lập  . Riêng Tân lập thì có 7 Phân Trại mang danh số từ K1 đế K7 và K5 là nơi đặt Bộ Chỉ Huy của Trại Tân Lập .
Vĩnh Phú là đất tổ Hùng Vương ,  thuộc vùng trung du Bắc Việt với núi đồi trùng điệp  . Tất cả 7  PhânTrại của Trại Tân Lập đều nằm trong vùng thung lủng bao bọc bởi núi đồi và K1 trong tận cùng .

Trại Tân Lập được Bộ Nội Vụ chọn làm Trại Kiểu Mẫu cho toàn quốc  do đó được tổ chức quy củ và rất khắc nghiệt . Trong suốt thời gian tôi ở Trại K1 cho đến khi được « tạm tha » , không hề có  vụ vượt ngục nào của  « tù chính trị « ( tức Quân – Cán – Chính của VNCH ) . Còn tù hình sự ( tức thành phần tội phạm ở Miền Bắc như cướp của , giết người , trộm cắp … ) có  trốn trại , nhưng  hoặc bị bắn chết , bị bắt lại tra khảo dã man hoặc do chính gia đình đem nộp lại cho Trại  vì sợ liên luỵ bị cúp tem phiếu mua lương thực , thực phẩm  .

Trại K1- Tân Lập là Phân Trại lớn nhốt khoảng 1.500 tù cải tạo mà đa số là tù chính trị và vài trăm tù hình sự  . Có lẻ VC  muốn pha trộn để nếu có Phái Đoàn Quốc Tế thăm viếng , tìm hiểu ... thì họ lùa hết chúng tôi lên rừng , chỉ để lại Trại thành phần hình sự  hầu dối gạt mọi người  .
Trại K1 hình vuông có diện tích khoảng hơn 1 hecta , cổng chính và 2 bên là những bức tường cao xây bằng gạch và xi măng  . Cạnh đối diện với cổng chính không có tường thành  (nhưng có thể có rào và tôi chưa hề đến khu vực này) tiếp giáp với cái « ao xả » thật lớn  (ao xả là vùng trủng chứa nước từ nơi cao đổ xuống ,  dùng nuôi cá và là nơi tù tắm giặt   ; đầu ao có 1 cái đập chắn để giữ hoặc tháo xả nước  ) . Bốn góc của trại giam đều có vọng gác và ban đêm khi tất cả tù đã «  vào chuồng « (khoảng 19 giờ  sau khi Cán Bộ trực điểm danh , tù chỉ sinh hoạt trong nhà giam và cửa chính của nhà bị khoá  bên ngoài  ) thì có thêm công an tuần tiểu quanh những nhà giam .

Để quản lý trại giam , lực lượng Công An ( tù gọi là bò vàng vì mặc đồng phục màu vàng ) gồm 1 Phân Trại Trưởng cấp bậc Đại Uý ( hay Thiếu Tá ) 1 Thượng Sĩ Phụ trách giáo dục , 25 Cán Bộ Quản Giáo cấp bậc từ Hạ Sĩ Nhất đến Trung Sĩ Nhất  ( Việc thăng cấp của CA thật lạ , 1 tên cán bộ quản giáo thấy mang lon Hạ Sĩ Nhất , khoảng vài tháng sau đã mang lon chuẩn úy )  .
Tên Phân Trại Trưởng  thường chỉ hiện diện ở những ngày lễ lớn hoặc khi có phái đoàn cấp cao viếng trại hay khi phải  « lên lớp «  cho tù .
Việc điều hành trại thì do Cán Bộ Trực Trại và khi tù xuất trại đi lao động thì Cán Bộ Quản Giáo Đội và các Cán Bộ vũ trang trách nhiệm .

Tù thì được chia làm 25 Đội gồm : Đội Nhà Bếp , Đội Rau Xanh , Đội xay xát , Đội Xây Dựng , Đội làm gạch , Đội Văn Nghệ  số còn lại là những Đội Nông Nghiệp .
Mỗi Đội khoảng 50 người tù hay nhiều hơn theo nhu cầu . Trách nhiệm bởi 1 Đội Trưởng và những Tổ Trưởng do Trại chỉ định .

Trên  các Đội có Ban Thường Trực Thi Đua trực tiếp giúp Công An điều hành công việc của Trại . Ban TTTĐ – K1 gồm  : Tr. Tá Dù L.V.ĐÀN ,Th . Tá N.T.KHẢI  Khoá 14 SQHQ/NT ,Đ.Uý N.V.LẬP  Khoá 5 BTV/CSQG ,  Đ.Uý QUANG  và tù hình sự NINH ( án tù chung thân vì giết người nhưng nhờ «  học tập tiến bộ «  được thả sớm , nhưng vài tháng sau lại thấy  quay vào trại ) .
Những TTTĐ được hưởng quy chế riêng  : không ở chung với các Đội , ăn uống riêng , không phải lao động chân tay , trực tiếp nhận lệnh từ Cán Bộ Trại  rồi truyền đạt đến các Đội Trưởng , giúp Cán Bộ điều hành công việc của trại đặc biệt là «  soạn thảo những kế hoạch thi đua !!!« …     .

Lũ tù chúng tôi thì   ở trong những nhà (VC còn gọi là buồng, lán ) dài 20 m , ngang 5 m , ngăn cách nhau bởi các  bức tường . Mỗi nhà chứa khoảng 200 người tù , mỗi người tù  có 2 m chiều dài và khoảng hơn 0,5 m chiều ngang , 1 ở tầng dưới , 1 ở tầng trên , 2 bên là 2 dảy sạp , chính giữa rộng 1m để đi lại . Nhà chỉ có 1 cửa chánh , vài cửa sổ nhỏ có chấn song sắt  . Cuối nhà là nơi dùng  để tiêu tiểu với  1cái  lỗ để thả phân , trên được đặt 2 thanh gỗ hoặc xây xi măng để ngồi , bên dưới là sàn tráng xi măng hoặc đất nện .  Số phân và nước tiểu này thì trưa mai tổ trực của Đội Nông Nghiệp hoặc Đội Rau Xanh sẽ hốt sạch để bón rau hoặc bón lúa  (họ gọi là phân bắc ) . Vì hiếm phân nên ruồi ở K1 tương đối ít hơn các trại tù trong Nam  hay ở Hoàng Liên Sơn   .

Việc ăn uống  ở trại K1 thì thật thảm nảo . Nếu khi còn ở miền Nam thì dù phải ăn gạo sâu ,  mục nhưng cơm không  độn và còn có chút cá , rau  , bí .... Rồi khi ở miền Bắc và  do bộ đội quản lý tuy chỉ ăn bắp xay   ( thỉnh thoảng có bánh bột mì  luộc ) nhưng  mỗi chiều thứ bảy và chúa nhật  tù được  cho hái rau dại quanh trại để  « cải thiện «  thêm . Còn ở trại K1 thì tuyệt đối  « độn » : khoai mì , sắn lát , sắn duôi  (sắn xắt sợi = sắn bào = manioc rapé ) , bắp hạt , bo bo . Còn cơm thì được 4 – 5 lần /1 năm vào ngày đầu năm dương lịch , mồng 1 tết ÂL , ngày 01tháng 5 , ngày 02/09 .Trên nguyên tắc thì mỗi ngày tù được độn 5g gạo , nhưng phần gạo độn trong sắn lát , bắp... chẳng biết đi đâu mất tiêu . Tuy rằng những đội Nông Nghiệp ở K1 có trồng lúa và nếp , nhưng thật khôi hài  là ngày tết được ăn 1 cái bánh chưng làm với 500g nếp tù phải vay trước 100 ngày(  vì tiêu chuẩn chỉ 5g / 1ngày) .

Ăn bắp hạt với tôi  là cực hình (  với những người tù khác chắc cũng thế)  vì ngoài Bắc các hợp tác xã làm việc theo kế hoạch của nhà nước : từ gieo trồng , chăm sóc , thu hoạch ...  . Do đó khi những cánh đồng bắp đã khô họ mới thu hoạch đồng loạt  (đại trà) sau đó hạt được tách ra và phơi tiếp  rồi nộp thuế cho nhà nước bằng sản phẩm ( không nộp bằng tiền) . Họ lại thiếu bao bì như trong Nam nên khi chuyên chở  bằng xe lửa  trên sàn xe đã từng chở than đá ,  bắp hoặc bo bo luôn có lẩn với than đá . Rồi do than , củi khan hiếm  nên hạt bắp nấu thường còn rất cứng  (tù gọi là bắp đá) . Nhiều lần nhai bắp cắn trúng hạt than đá răng tôi bị bễ , đôi khi đang trệu trạo nhai cảm thấy là lạ , dùng lưỡi rà thì có cái răng đã theo bắp xuống viếng bao tử . Nhờ ăn bắp mà 32 cái răng của tôi ngày nay chỉ vỏn vẹn còn có 8 cái làm kiểng ( chưa được xếp vào hạng  « hăng rết »)  .


sắn -
Ăn khoai mì  (sắn) thì càng tệ  . Sắn là loại « cây Chiến lược « của miền Bắc vì dễ trồng  , không kén đất và không đòi hỏi sự chăm sóc , nên ở K1 cũng trồng thật nhiều khoai mì  . Khoai mì  tươi  hấp ăn chơi thì rất ngon , nhưng phải ăn dài dài thì mở mắt hổng ra . Sắn duôi , sắn lát thì càng bi đát hơn . Khác với sắn lát ở ngoài Trung  trắng hếu trông bắt thèm  , sắn lát ngoài Bắc  (tù gọi là sắn đẻo ) họ thu hoạch đại trà vào mùa đông , xắt lát bừa bãi rồi phơi vào mùa lạnh , mưa phùn gió bấc nên sắn lát thường mốc xanh , mốc da cam . Rồi khi nấu không được rửa  sạch  (đội nhà bếp  hoàn toàn do tù hình sự phụ trách) nên  sắn lát nấu xong thường hôi hôi  , nếu đem nuôi heo ở miền Nam chắc heo sẽ lắc đầu bỏ đi chỗ khác , nhưng tù thì không có sự lựa chọn nào khác .
Còn việc ăn bo bo thì cũng chẳng khá chút nào . Bo bo là thức ăn cho gia súc do Ấn Độ viện trợ  . Bao tử con người thì không tiêu hoá được vỏ hạt bo bo , do đó tù ăn bo bo là «  của thiên trả địa « . Vì thiếu răng  và không có thời giờ để nhai kỹ nên ăn bo bo  , cơ thể tù hầu như chẳng hấp thụ được gì .

Trên nguyên tắc thì hàng tháng tù có được  100 g đường , 100g thịt  , nhưng đường thì thật hoạ hoằn chắc vì đồng chí Cuba quên chở qua  . Còn thịt thì dăm ba tháng « ngả »  (giết) 1 con lợn cho 1.500 tên tù thì mỗi người chỉ được 1 – 2 miếng ba rọi  gần bằng 2 ngón tay  . Lý do vì bị chặn xén và  lý do khác là vì «  lợn hơi nên nó bị bay hơi « ( VC gọi lợn hơi tức là kể cả xương , lông   ) .

Vào những dịp lễ lớn trại thường làm thịt trâu , những lúc đó thì tù  rất hồ hỡi «   có thịt nhiều hơn vì  trâu  lớn hơn heo vã lại da trâu cũng được tận dụng . Miền Nam thì chẳng ai biết ăn món da trâu , nhưng  đối với tù da trâu nấu ăn sậc sậc ngon hết xẩy  . Nhiều người tù sau khi được thưởng thức món da trâu đã tuyên bố là »  khi ra tù sẽ lấy quai guốc của Bà Nội , Bà Ngoại chế biến thành thức ăn » .

Khoảng 2 năm 1 lần thì tù được nếm mùi cá , vì khi đó trại xả nước ở ao xả để bắt cá , chủ yếu là dành cho Công An của trại , nhưng ăn mình ên cũng kỳ nên tù cũng được cho chấm mút  đôi chút  .
3 năm tù đầu tiên thì chúng tôi chưa được phép liên lạc với gia đình nên không được tiếp tế  , việc ăn uống của trại giam thì cực kỳ thiếu thốn dù vậy vẫn phải lao động khổ sai vất vả nên những chất dự trử trong cơ thể đã cạn kiệt . Khoảng cuối năm 1978 và đầu 1979  tù bị bệnh và chết nhiều nhất .

Qua 10 bài học vớ vẩn ( như trử lượng dầu hoả của ta so với của Mỹ như con voi  so với con tem  (timbre) và dầu của ta tốt chỉ múc lên là xài được không cần phải lọc ...  Các đồng chí phi công anh hùng của ta đem MIG lên mây tắt máy chờ  con ma (phantom  F4)   , thần sấm  (thunderchief F105)  của Mỹ đến, ta nhảy ra vồ bắt cả giặc lái của chúng  .... )  trong  những trại tù ở miền Nam và 1 năm đầu ở miền Bắc , VC biết  không « cải tạo » được gì thành phần  Quân – Cán – Chính của chế độ VNCH  nên chúng chuyển sang « chính sách khô máu »  tức  « cột chặt bao tử » đồng thời  bắt  « lao động khổ sai »  để triệt mọi đề kháng của người tù  .
Do chính sách nham hiểm đó  VC đề ra khẩu hiệu  «  lao động là vinh quang »  với lời hứa hẹn  « ai lao động tốt , tiến bộ sẽ được cứu xét cho sớm về đoàn tụ với gia đình « .

Trừ một số trại giam có trước 1975 , người tù phải tự xây cất lấy nhà giam của mình , phải lao động , sản xuất lương thực , thực phẩm để tự túc và nuôi luôn lũ cai tù . Với phương tiện , dụng cụ thô sơ , thời tiết khắc nghiệp cộng với cái đói cồn cào triền miên ... người tù phải quần quật từ thứ hai đến trưa chúa nhật  (chiều chúa nhật nghĩ) , ngày hơn 10 tiếng ( không kể công việc đột xuất hay mùa thu hoạch sắn , lúa ) .

Tình cảm tuy là bản chất tự nhiên của con người , nhưng giáo dục  gia đình và học đường cũng  ảnh hưởng không ít  . Miền Nam theo truyền thống của Tổ Tiên  đề cao  Nhân  Bản nên về tình cảm người miền Nam  vượt xa  người CS miền Bắc theo thuyết duy vật . Chính yếu tố tình cảm muốn sớm được đoàn tụ cùng người thân ở miền Nam  mà tội nghiệp  thay vô số người tù  chính trị VNCH đã gục ngả vì kiệt sức .

Thực ra người tù không chỉ chết vì thiếu đói hay kiệt sức vì lao động mà còn do nhiều nguyên nhân khác . Tuy kém xa miền Nam về văn hoá ,về trình độ khoa học , kỹ thuật ... nhưng về mặt  hiểm độc thì VC đáng bậc thầy , chúng có trăm , nghìn cách để trả thù kẻ hơn chúng về mọi mặt nhưng nay bị thất thế sa cơ . Sau 30.04.1975  chúng đã đuổi hết thương phế binh VNCH ra khỏi  những bệnh viện để  cướp hết thuốc men và vét sạch tất cả tiệm thuốc tây mang  về Bắc , nhưng khi tù bị bệnh - bất cứ bệnh gì  cũng chỉ được bố thí cho vài viên  « xuyên tâm liên »  bá láp , người tù nào có thuốc đem từ miền Nam thì đều bị chúng tịch thu . Mùa đông  miền Bắc  vô cùng lạnh lẻo (riêng năm 1978 nhiệt độ có nơi xuống thấp 0°) , tù chỉ chiếc áo mong manh , không chăn , không được sưởi  . Người tù nào cũng xanh xao vàng vọt  vì thiếu máu nhưng ngày lao động thì bị đỉa , vắt hút máu , đêm thì bị muỗi , rận , rệp hành mà rệp trong trại tù thì hàng hà sa số , còn rận thì chỉ to bằng đầu kim găm màu trắng đục khó thấy , chỉ có thể dùng chai thuỷ tinh lăn cán chúng để diệt tạm   . Đã thế mà đêm đêm  người tù còn phải  học tập , tự phê , phê bình , bình chọn cá nhân  xuất sắc  ( theo nguyên tắc  tù mỗi tháng được ăn 15 cân  sắn , bo bo ..., kẻ lao động kém chỉ 13 cân , người lao động xuất sắc được 18 cân ) . với sự thâm độc này  VC đã dụ dỗ không ít người tù làm ăng ten cho chúng cũng như đã giết đi vô số người già cả , yếu đuối , bệnh tật không lao động nổi theo chỉ tiêu của chúng vạch ra   .

Phần tôi , ở trại K1 – TL lúc đầu tôi lao động ở đội Rau Xanh mà đa phần là những người tù lớn tuối . Nhiệm vụ của chúng tôi là cung cấp rau cho trại tù và  cho Công An quản lý trại  . Tiếng là rau nhưng thật ra chỉ thuần là loại cải củ  (radis)  hoạ hoằn thì trồng thêm cải bắp ( chou) cho  cán bộ .
Cải  từ khi gieo hạt đến lúc thu hoạch chỉ khoảng hơn 2 tuần nên chưa tượng được củ , tù chỉ ăn lá và rễ . Vì thời gian quá ngắn nên muốn đạt chỉ tiêu thì tù phải  « nuôi thúc « tức dùng phân người hoà với nước và nước tiểu để tưới rau . Điều khôi hài là trong tù mọi thứ đều được tận dụng  , do không có giấy vệ sinh , lá cây... nên tù phải dùng  những mảnh giẻ nhỏ của quần áo rách sau khi xả bầu tâm sự , do đó rau được tưới tắm thường có những mảnh giẻ đó bám  , rồi tù hình sự nhà bếp lại chẳng buồn nhặt thế là trong phần » canh đại dương «  (tức chỉ có vài cọng cải và nước muối ) thỉnh thoảng có thêm phần phụ trội đặc biệt này và người tù nào  lở có được mảnh vải đó thì chỉ lẳng lặng vớt bỏ đi rồi thản nhiên thưởng thức phần canh  .
Cạnh khu vực trồng rau có 1 suối cạn chảy ngang  , nhưng  không hiểu tại sao VC không  cho dùng nước suối đó mà bắt lấy nước từ 1 cái ao nước đọng xanh lè ? khiến ghẻ chóc ở chân  của một số tù  bị nhiểm trùng nặng hơn  .
Trại tù thì đông người , đất quanh trại thì không thiếu và đội rau xanh chỉ gồm những người tù lớn tuổi , yếu đuối làm sao cung ứng nổi cho nhu cầu thực phẩm của trại  ? thế mà vài người trẻ hiếm hoi như tôi chỉ vài tháng sau đã phải rời đội rau xanh  để lao động ở đội khác. .



tù đội nông nghiệp

Đội kế tiếp của tôi là đội Nông Nghiệp chuyên  trồng lúa và khoai mì  .
Trước 1975 , tôi ăn đủ thứ gạo nhưng  chưa hề biết làm ra hạt gạo  . Khi lao động ở đội Nông Nghiệp  tôi đã trải qua tất cả các khâu : từ cày , bừa , bón phân  chuẩn bị đất ; ngâm – ủ thóc giống ; gieo , nhổ mạ ; cấy ; làm cỏ- sục bùn ; gặt ; thu hoạch lúa  ( VC dùng trâu quần chứ không đập như trong Nam ) . Sau cùng là phơi thóc và giao cho đội xay xát làm ra hạt gạo  .
Trong việc trồng lúa ở K1 thì nhọc nhằn nhất là khâu cấy   . Khi trời nóng như thiêu thì người tù phải phơi sấy lưng và « tiếp huyết » cho lũ đĩa . Khi trời lạnh thì đĩa trốn sạch , nhưng  dưới cái rét căm căm thì 2 bàn tay của người cấy thường bị tím bầm - co cóng và khổ nhất là phải cấy ở những thửa ruộng  lún phải dùng 2 thanh tre để trượt và  cấy thụt lùi .

Việc trồng lúa ngoài Bắc có nhiều khác biệt với trong Nam  . Đồng bằng Cửu Long thì phù sa màu mỡ nên ngay việc trồng lúa nổi không đòi hỏi chăm sóc , mỗi hecta thu hoạch hơn 3 tấn lúa là thường . Trong khi đất Vĩnh Phú có từ thủa vua Hùng  nên đã cằn cỗi , những nhà máy phân hoá học Hà Bắc , Phú Thọ năng suất quá kém không cung ứng  nổi cho nền nông nghiệp nên chúng tôi hầu như  phải hoàn toàn tự túc  về phân . Để trồng lúa chúng tôi chỉ xử dụng phân chuồng tức phân trâu và phân bắc  tức phân người . Hồi còn tù ở miền Nam chúng tôi  đã chế biến vô số đồ vật thậm chí làm cả cây kim , nhưng rồi trong những lần «  kiểm kê »  bị VC tịch thu hết  thậm chí cả những chiếc găng tay , do đó khi dùng phân người để bón ruộng  VC bắt chúng tôi phải dùng tay bốc phân hôi thối nhọp nhẹp dòi bọ  nhưng chẳng hề có xà bông hay pousse mousse để rửa .
tù lao động khổ sai

VC thường xĩ vả chúng tôi là trước kia « không biết lao động , chỉ ngồi mát ăn bát vàng » , nhưng  khi tù hình sự phụ trách trồng lúa thì mỗi hecta thu hoạch không đến 1 tấn thóc . Rồi khi chúng tôi thay hình sự thì mỗi hecta đạt hơn 3 tấn  . Điều này dễ hiểu vì  với CS  thì  « hồng hơn chuyên » do đó trình độ của chúng ngay cả cấp lảnh đạo   cũng chỉ cở  « lớp ba trường làng »  .
Từ sau khi cấy mạ  đến lúc thu hoạch lúa , trừ 3 lần làm cỏ – sục bùn và bón phân  (ngoài Bắc có câu  « công cấy là công bỏ , công làm cỏ mới là công ăn »  ) ; đội Nông Nghiệp  chúng tôi còn phụ trách việc trồng sắn  (khoai mì) .

Trồng sắn thì thật dễ ai cũng làm được , nhưng  trồng trên những đồi đầy rễ cây dương xỉ , dây leo , đá lẩn với đất ... mà phải đạt chỉ tiêu 100 hốc sắn  vuông vức và sâu 40cm / mỗi ngày với những cái cuốc xì cút chế biến từ những cọc sắt thì vô cùng vất vả  và  không tưởng  . Do đó chúng tôi đã  qua loa , gian dối với sự đồng loả làm ngơ của  Cán Bộ Quản Giáo .


đội vận chuyển

Thỉnh thoảng khi  có xà lan chở than đá về bến Ngọc  , chúng tôi  bị xung công thành đội Vận Chuyển được trang bị  những chiếc « xe cải tiến » tức xe bù- ệc ( brouette) nhưng có thùng xe lớn và gắn 2 bánh xe thay vì 1  . Người xử dụng   tay nâng 2 càng xe  , cổ được choàng 1 sợi dây leo hay dây chuối  , kéo xe như  bò , như ngựa  (VC gọi là « cách mạng giải phóng đôi vai » ) .
Từ tờ mờ sáng chúng tôi phải xuất trại sớm  kéo đoàn xe trên  đường trơn trợt khi lên đồi , khi xuống nơi trũng dưới cơn mưa hay giá buốt  và khi đến nơi phải lao vào giành giựt xúc than với các Trại khác  . Khi tất cả xe đã đầy than , chúng tôi mới được phép  thưởng thức  món sắn « ôi « ( thiu)  với nước muối  .
Đoạn đường đi – về chỉ khoảng 35 km , nhưng  với những chiếc xe than nặng gần 150 kg phải di chuyển thật khó khăn nên khi chúng tôi về đến trại thì những Bạn tù khác đã «  vô chuồng «  .
Nhìn  chung , ở trại Tân Lập – K1 thì trừ đội Nhà Bếp và đội Xay Xát  tương đối «  dễ thở » còn những đội khác đều vô cùng vất vả . Do thiếu dinh dưỡng , chất dự trử trong cơ thể đã cạn kiệt , phải lao động cật lực ...  thời gian từ cuối năm 1978 , người tù chính trị bị bệnh và chết nhiều nhất  .


tù chết khi lao động

Tôi cũng bị nạn trong thời gian này . Nếu năm 1977 , ở Hoàng Liên Sơn tôi thoát chết khi bị bệnh kiết thì lần này tôi cũng may mắn thoát chết khi bị phù thũng   (ấn 1 ngón tay xuống bắp tay , vài mươi phút sau lỗ trũng vẫn còn)  . Rất nhiều Bạn tù chính trị đã bị phù thũng  , mà bệnh này thì phải kiêng cử muối . Trong khi khẩu phần hàng ngày của tù thì chỉ có  « cơm »  độn và « canh đại dương « .

Anh T.H. NGHĨA  ( Trưởng Cuộc Cảnh Sát phi cảng Tân Sơn Nhứt ) bị phù thũng , sau 1 tháng không động  đến phần nước muối  , rồi 1 hôm phần canh đại dương có  thêm chút  mắm ruốc trông bắt mắt , nên được Anh  chiếu cố và  tối hôm đó  Anh đã  vĩnh viễn  «  ra đi «  .

Một cái chết khác cũng thật thương tâm , trường hợp của Anh Đ.P. THỌ – Sĩ Quan Cảnh Sát quê ở Bà Rịa – Vũng Tàu  . Hôm đó tù phải xem phim tuyên truyền « chống  cường hào – địa chủ » của Bắc Hàn . Vì hội trường không đủ sức chứa nên tù phải xem phim ngoài trời dưới cơn mưa . Anh THỌ đang bị cảm nặng nên xin phép được ở lại trong lán , nhưng tên Cán Bộ Trực Trại từ chối với lý do «   không phải xem phim để giải trí mà là  buổi học tập chính trị , sau khi xem phim  phải thảo luận và nộp bài «  . Dưới cơn mưa Anh Thọ run cầm cập và mươi phút sau bị ngất xỉu  . Anh được khiêng lên y xá nhưng đã trút hơi thở cuối cùng . Tù vẫn phải tiếp tục xem phim  và xác anh  Thọ được đặt tạm trong 1 nhà quàn ( 1 cái chòi có nóc và 1 cái sạp tre)  và vì trại không còn áo quan  ( đóng bằng những bìa ván vụn  ) nên khi xác anh THỌ được đem chôn thì một phần mặt đã bị chuột ăn .

Phần tôi ,  từ nhỏ rất thích tìm hiểu về dược thảo và rồi nhờ đọc 1 bài viết của Giáo Sư P. H .HỘ  rằng « cỏ cứt lợn » (  trong Nam gọi cỏ cứt heo) có tính chống sưng «  mà phù thũng thì cũng bị sưng , do đó tôi thường hái cỏ  này trụn với nước nóng khi có thể hoặc rửa sơ rồi ăn như heo ăn cỏ . Ngoài ra nhờ ăn được  ít cám mà  Trại thưởng , do Đội tôi được bình chọn là xuất sắc nhất trong năm . Có lẻ nhờ 2 món đó mà tôi đã thoát lưỡi hái tử thần  .

Ngoài lần bị phù thũng , trong thời gian ở những đội Nông Nghiệp ( VC  chuyển đội và chỗ nằm của người tù thường xuyên ) nhiều lần tôi còn  bị nạn vì «  ăng ten «  tố cáo :
-          1 cựu SQ CS/Nha Trang tố tôi đã «  thu hoạch linh tinh « vì tôi hái những nấm mèo mọc  trên những cây sắn khô .
-          Cũnng chính  Anh ta lần khác tố tôi  « giờ này đã Cách Mạng mà còn nói chuyện dị đoan « Số là VC cấm xài ngoại ngữ , kể chuyện quá khứ ... tù chỉ được nói về lao động , nhưng lần đó đội dàn hàng ngang đào hốc sắn dưới trời nắng như thiêu , để quên vất vả tôi kể chuyện về cái miểu trên đảo Hoàng SA mà năm 1974 tôi công tác ngoài đó có thấy .
-          Lần thứ 3 cũng vị ăng ten này tố tôi  đã « quan hệ linh tinh » . Lần đó đội Vận Chuyển  của tôi sau khi xúc than xong thì trời đổ mưa , tôi nép dưới mái hiên của 1 nhà kho tạm để thanh toán phần ăn trưa  , 1 người tù hình sự giữ kho thò đầu ra khỏi liếp cửa sổ nói với tôi «  sắn ôi thế Chú ăn sao được « , tôi  bảo là không có sự lựa chọn khác  . Anh ta bảo  Chú khoan ăn , đợi cháu  (tù hs luôn xưng hô với tù ct là Chú – Cháu) và vào kho lấy cho tôi 1 vá muối hột  . Tôi cám ơn rồi chia vá muối ra 4 phần , 1 phần cho 1 Bạn tù thuộc Phủ Đặc Uỷ Trung Ương Tình Báo ngồi cạnh  , 1 phần cho Anh ta và 2 phần cho tôi . Thế mà trong đêm họp học tập  Anh ta lại giơ tay tố cáo tôi  . May là vị SQ PĐUTƯTB  đã giải oan giùm tôi .
-          Lần thứ 4 thì là 1 SQCS khác - Tổ Trưởng của tôi tố tôi đã «  quan hệ đổi chác linh tinh »  . Tôi chẳng có gì để đổi chác , chỉ nói chuyện với Anh Bạn nằm sát cạnh nhưng  thuộc đội Nông Nghiệp khác . Anh ta cùng học chung trường Nguyễn Đình Chiểu – Mỹ Tho , nhưng khác Quân Chủng  . Chúng tôi chỉ kể về trường cũ thôi , nhưng  Anh Bạn tù này bị Đội đem ra kiểm điểm 1 tuần lễ . Phần tôi chỉ bị kiểm điểm 1 đêm . Tôi đã hết lời phân trần nhưng Ông Tổ Trưởng của tôi  vẫn cố tình ghép tội . Ức quá tôi thề  « nếu tôi có đổi chác gì thì cả gia tộc nhà tôi 3 họ sẽ bị chết thảm , còn nếu tôi không có thì gia tộc nhà Ông sẽ bị như vậy »  . Thế là Ông ta chụp tôi thêm cái tội là Cách Mạng rồi mà còn thề thốt .

Tức cười là sau này tôi được ra tù trước 2 Ông ăng ten này . Chắc vì VC còn cần những người  giúp việc tốt cho chúng ?.

Khoảng năm 1979 thì chúng tôi được phép viết thư cho gia đình , rồi được phép nhận quà mỗi năm 4 quý , lúc đầu là 3 kg , 5 kg , 10 kg và rồi được thăm nuôi  .

Từ Miền Nam ra thăm  tù ngoài Bắc thật «  thiên nan , vạn nan « ; từ khâu phép tắc , phương tiện di chuyển , chắt chiu mua sắm , đề phòng cướp giật ...   1 lọ muối mè , 1 cục đường , 1 con khô ...đến được tay người tù trăm lần quý hơn sơn hào hải vị và là công ơn trời biển của những Bà Vợ , Bà Mẹ hoặc  thân nhân của người tù .

Về quà cáp cũng có nhiều chuyện thật  đau lòng
-          1 người tù nhận được gói quà chỉ có 1 lít cám rang vì khả năng của Bà Mẹ già chỉ có thế.
-          1 Bạn tù quê ở Cà Mau được thăm nuôi chỉ có  1 giõ trái lê ki ma  (Bắc gọi quả trứng gà) vì tất cả thứ khác đều bị cướp sạch .
-          Nhiều Bà Mẹ , Bà Vợ ... đến trại tù thì  Con , Chồng ... đã  « ra gò nằm « ( ra nghĩa địa ).
-          .....................
Vì tù chết nhiều , sợ tai tiếng quốc tế , VC phần nào bớt kìm kẹp  và mượn tay gia đình nuôi tù thay cho nhà nước , nhờ đó sức khoẻ của chúng tôi ít nhiều  được  hồi phục .

Khoảng năm 1980 , tôi « được » chuyển sang đội Lâm Sản .  Đây là « thời vàng son » nhất  trong đời tù của tôi . Tuy cũng vô cùng vất vả vì phải vô rừng , leo núi để chặt củi , đốn gỗ về cho Trại , nhưng chúng tôi được tự do hơn  vì không bị  công an vũ trang  theo sát .

Với mớ  chỉ nylon tháo từ những mảnh áo  giáp khi còn tù ở miền Nam , tôi đã lợi dụng tối đa để cắm câu ở những con suối  ( lưỡi câu uốn từ cọng thép ở talon vỏ xe đạp phế thải ) để có được cá trạch , cá trê , cá lóc , rùa , rắn ...  và chế những cái bẩy thần sầu để bắt chim , gà rừng , sóc ...  giúp cải thiện bữa ăn 
.
Những Bạn tù khác thì do hoàn cảnh gia đình có nhiều quà cáp  thăm nuôi . Còn tôi thì có cả kho tàng thiên nhiên  ưu đải . Bất cứ loại chim nào phải xuống đất ăn hạt ,  ăn côn trùng hay xuống ven suối ăn cua , cá ... thì sớm muộn đều lọt vào tay tôi  . Tôi còn bắt được chim hoạ mi , chim khứu để nuôi chơi .

Ở đội Lâm Sản chỉ tiêu của chúng tôi  mỗi người ngày  phải nộp 1 mét khối củi , nhưng vì củi ngày càng khan  hiếm , chúng tôi  kỳ kèo xuống 7 – 8 tấc khối / ngày  . Ngoài ra , do đã biết “  lao động tiến bộ được về sớm « chỉ là chiếc bánh vẽ , chúng tôi  toa rập với Đội Trưởng , Đội Phó trách nhiệm đo đạc  để « gửi củi trong ngân hàng « tức là dù tôi có được 10 mét khối củi , nhưng không nộp hết mà mỗi ngày chỉ nộp theo chỉ tiêu  . Do đó  , nhiều hôm tôi không hề lao động , chỉ đem võng vô rừng  treo nằm chơi và đi thăm câu , thăm bẩy để bắt cá , bắt chim .

Rồi tôi được chuyển sang làm tài xế xe trâu  cho đội Lâm Sản  (ngon lành hơn lái FERRARI ngoài đời) với nhiệm vụ  ngày 2 chuyến chở củi từ rừng về Trại .
Trại K1 có 2 xe trâu . Trâu và tù đều khổ , nhưng Anh Bạn lái xe trâu kia thì hành hạ trâu ghê lắm  . Có lẻ « giận cá chém thớt » , Anh luôn dùng sống dao đập sừng trâu khiến một hôm trâu bị chết  (có lẻ bị long óc) ; cả trại tù vui vì có thêm chất thịt .

Phần tôi , rất cưng con trâu của tôi . Nó vốn ăn uống  chậm rải,  lại ít được nghĩ ngơi nên  luôn đói , do đó khi di chuyển tôi thường cắt lá tre , lau , lách ... ngồi trên càng  xe thỉnh thoảng  đút  cho nó  ăn  . Tuy không là loài vật thông minh , nhưng con trâu biết tôi thương nó  , nên  luôn ngoan ngoản giúp tôi  hoàn tất tốt công việc . Những khi quá nóng nực hay quá lạnh hoặc phải vất vả lên dốc trơn trợt trâu thường phá chạy càn  , nhưng con trâu của tôi thì không bao giờ  , nhờ đó tôi được rảnh rổi nhiều và  càng có được nhiều chim , cá ... hơn .

Có lần xe trâu tôi đang đổ dốc thì  1 con rắn hổ đất to gần bắp tay và dài khoảng 1 mét 80  cũng đang đổ dốc . Tôi ra lệnh cho trâu dừng lại , nhưng dù khôn trâu chỉ phản ứng theo thói quen của bản năng  , nó ngoái đầu nhìn tôi nhưng vẫn bước , tôi phải hét 2 – 3 lần nó mới dừng hẳn .Lúc đó con rắn đã bò xuống thửa ruộng  vừa cấy . Thường thì trên xe trâu tôi luôn có 1 con dao lớn  , 1 dao nhỏ và 1 cây gậy , nhưng hôm đó con dao lớn và cây gậy đã bị tù hình sự lấy cắp , tôi chỉ còn con dao nhỏ  cở gang tay . Tôi nhặt được nhánh tre nhỏ  dài 5- 6 tấc chạy vòng bờ đê để chặn đầu rắn  . Con rắn bèn quay đầu bò đi chỗ khác . Tôi không thể lội xuống ruộng vì sẽ dẩm mạ , vã lại đang mang giày . Sau nhiều lần bị chặn đầu , con rắn khựng lại nằm bất động dưới ruộng , tôi bèn nhặt 1 cục đất ném để đuổi nó . Rắn bỗng nổi hung , « phùng bàn nạo » , phóng lên cắn tôi . Nhờ biết chút võ Thiếu Lâm và Tae kwon Do  , tôi né tránh rồi dùng roi tre đánh rắn văng xuống nước và đập tới tấp  , tuy không chết nhưng rắn bị nhừ đòn . Cuối cùng tôi vít nó lên bờ đê , dùng dao nhỏ chặt đầu rắn . Hôm đó với chiến lợi phẩm là con rắn hổ  và vài con chim bẩy được , tôi và vài người bạn đã có được  1 bữa ăn ngon lành .

Do hoàn cảnh gia đình nghèo nên suốt thời gian tù tôi chỉ có vài gói quà và 1 lần được  thăm nuôi  , nhưng từ khi thường xuyên có thịt - cá thì ai cũng muốn thân thiện với tôi , thậm chí cả Công An  .

Có lần tên Cán Bộ Y Sĩ của Trại qua trung gian của người tù phụ tá là Th.Tá BÁCH  ( Sĩ Quan An Ninh Biệt Khu Thủ Đô ) xin tôi 1 con chim hoạ mi để nuôi . Tôi từ chối , nhưng Anh B bàn  «  mày không cho , nó thù vặt khi  tù khám bệnh , nó không cho thuốc hay không cho nghĩ  thì khổ anh – em mình «  . Anh B nói có lý nên cuối cùng tôi  đồng ý . Tên Y Sĩ VC hài lòng nên  cho phép nhổ cái răng đau mà tôi đã xin nhổ từ cả năm nhưng luôn bị từ chối . Số là trong tù ngoài việc bị khổ sở vì đói khát , lao động vất vả và phải «  hiến máu » cho đĩa , vắt , muỗi , rận , rệp  tôi còn thường bị những cái răng đau hành hạ . Có khi cả 2 bên má bị sưng vù như ngậm 2 trái mù u  , những lúc đó tôi phải dùng chiếc muỗng tự chế để đưa thức ăn vào nóc giọng và nuốt trọng như  cách người ta gaver  vịt , ngổng ở Pháp .

Việc nhổ cái răng đau của tôi thì thật hy hữu . «  Cưng tôi «  nên tên Y Sĩ  VC cho chích vào nướu răng tôi  ống thuốc tê do Trung Cộng sản xuất đã quá hạn xử dụng mấy năm , do đó thay vì  giúp tôi bớt đau  mấy mũi kim  đâm vào nướu còn làm tôi đau hơn . Sau đó , tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu  và  được nhổ răng bằng chiếc kềm càng cua . Kềm đã bị rỉ sét  , nên khi được  sát trùng  với alcool 90° thì lại càng sét hơn . Sau mươi phút vật lộn với chiếc kềm như nhổ đinh chiếc guốc Đa Kao  Anh BÁCH cũng thành công trục được chiếc răng hàm của tôi . Phần tôi miệng thì đầy máu còn mồ hôi con mồ hôi cha thì nườm nượp chảy xuống thân , may là tuy đau thấu Ngọc Hoàng , nhưng tôi đã không bị nhiễm trùng .  Riêng Anh  BÁCH  vì phải đóng vai Nha Sĩ bất đắc dỉ , trán Anh  cũng rịn mồ hôi  .

Khoảng thời gian từ năm 1980 tình hình ở Trại K1 có thật nhiều thay đổi  . Không chỉ vì hầu hết tù hình sự đều tình nguyện phục vụ và xin các Chú tù chính trị « đở đầu »  để  nương tựa và hưởng chút ơn mưa móc  mà ngay cả với Công An thái độ cũng khác trước « trở nên dễ chịu hơn » . Có lẻ do được  tiếp xúc với thân nhân người tù ra thăm nuôi hay được nghe người miền Bắc có dịp vào Nam trở ra kể hoặc do được nhận những  quà cáp biếu xén  như : đài , đổng , quần bò , tiền ... mà từ tên Phân Trại Trưởng đến chú  Công An tép riu đều  «  cởi mở «  .

Một Anh Bạn tù gốc BĐQ tác chiến thứ dữ rất thích rượu nên thỉnh thoảng lén đổi chác với dân . Thường thì 1 cái áo tù đổi được 1 cân cơm nếp  , 1 con gà luộc và 1 bi đông rượu . Anh H  có tật hể rượu vào thì mặt đỏ như Quan Công . Lần đó sau lao động trở vào Trại thì mặt Anh còn đỏ gay . Tên Cán Bộ trực trại hỏi «  Anh H uống riệu phải không ? «  , dỉ nhiên Anh chối , nhưng tên Công An bảo Anh hà hơi cho 1 tên tù hình sự ngửi . Tên này xác nhận có mùi rượu , thế là Anh H phải bị cùm , nhưng đó là chuyện trước kia , sau này chính những tên CA đi rong đêm đã đề nghị đổi rượu và đem vào Trại cho Anh , dỉ nhiên là hắn cũng có chấm mút cái gì đó  .

Phần tôi , từ khi tù đã 4 lần bị chuyển trại . Với VC mỗi khi chuyển trại chúng chỉ báo trước nửa giờ hoặc  1 giờ để tù chuẩn bị , nhưng lần tôi ra tù thì được 1 tên CA phụ trách văn thư lén báo trước mấy hôm  . Tuy không tin nhưng tôi cũng nuôi hy vọng và càng nổ lực bẩy chim , câu cá để làm tiệc đải Bạn – Bè  . Rồi tin chính xác , tôi được rời nhà tù nhỏ  .

Chúng tôi được chở bằng xe lửa từ ga Ấm Thượng về ga Hàng Cỏ ở Hà Nội . Khác với lần ra Bắc năm 1976 , lần này chúng tôi không bị chửi mắng và bị ném đá , mà dân Hà Nội bu quanh  để nói chuyện , họ không gọi chúng tôi là Nguỵ nữa mà gọi là  « dân Sài Gòn bị ở tù «  .
Mấy tên Công An áp tải thật bối rối , báo cáo cấp trên và nhận lệnh «  trong khi chờ chuyến xe lửa thống nhất Bắc – Nam  họ tạm đưa chúng tôi vào  Hoả Lò «  với lý do « để bảo vệ an ninh cho chúng tôi «  .

Thời gian tạm trú ở Hoả Lò , một số người nhất là dân gốc Hà Nội  yêu cầu được ra phố để  mua thức ăn  . CA/ VC chỉ đồng ý cho 6 người đại diện , tôi gốc Nam Kỳ không hề xin đi , nhưng chúng lại chỉ định . Thế là tôi cũng có dịp thấy sơ bộ mặt của thủ đô nghìn năm văn vật ( dơ bẩn và xơ xác hơn Chợ Lớn hồi thập niên 50 ) và lần đầu tiên được thưởng thức món « phở không người lái »   dở nhất thế giới .

Hai hôm sau khoảng 3 – 4 giờ sáng tôi về đến ga Bình Triệu . Xuống xe mà ngơ ngác như Mán lên thành vì  trước khi đi tù tôi đâu biết gì về ga này . Một chiếc xích lô trờ tới , tôi hỏi giá để về đường Thích Quảng Đức – Phú Nhuận . Anh phu xe ra giá 30 đồng , nhưng túi tôi chỉ vỏn vẹn có 15 đồng nên đề nghị là Anh chở tôi 1 đoạn đường , khi đã nhận dạng được điểm quen tôi sẽ tiếp tục đi bộ về nhà . Anh phu xe đồng ý nhưng khi biết tôi vừa ra tù từ miền Bắc thì Anh vui vẻ chở tôi về đến tận nhà  chỉ với  15 đồng . Có lẻ Anh cũng là cựu tù nay phải đạp xích lô để kiếm sống nên đã thông cảm  .

Rồi tôi lái ghe thuê , vượt biển đến đảo quốc  Singapore . Tuy được ưu tiên đi Mỹ vì có huy chương của Đô Đốc ZUMWALT – TL/HQHK/ở VN ( do trước kia tôi đã cứu mạng 3 quân nhân Mỹ) , nhưng  cay cú về sách lược chính trị của HK  đối với VNCH nên tôi từ chối và chấp nhận đi Pháp  . 
Tôi đến Pháp cuối năm 1983 – thời mà đảng Cộng Sản Pháp cực thịnh nên  không gặp thuận lợi , phải vô cùng vất vả để ổn định cuộc sống .

Ngày nay đã qua tuổi cổ lai hy , nhưng tôi có sức khoẻ tốt , vật chất đủ   thật  tự do . Đã hết cơn bỉ cực từ nhà tù nhỏ đến nhà tù lớn của VC ,  hiện tôi vô cùng hạnh phúc ở tuổi già  .

Paris , Xuân Bính Thân 2016
              HQ.tkd