vendredi 30 janvier 2015

Chuyện đồng quê




ChuyŒn ÇÒng quê .


1 - Trận chiến giữa người và quạ



Bao phen quạ bảo với diều ,

Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm .



    Đây  chỉ là ẩn dụ mà người dân Long-Xuyên dùng để khoe về sự giàu có thuỷ sản của quê họ , chứ thật ra quạ chẳng có họ hàng thân tộc gì  với diều để mách bảo điều tốt lành cho diều .



    Ó , diều ... thuộc loại mảnh cầm , còn quạ không có mỏ sắc bén , không có vuốt nhọn để được xếp vào loại mảnh cầm . Tuy nhiên , không ai có thể phủ nhận rằng quạ là loài chim thật tinh khôn . Tôi là tay bắn gìàn thun khá , rắn , cá , chuột , dơi , chim chóc gì tôi cũng hạ được , ngoại trừ quạ .







    Quạ là loài chim có mặt khắp nơi trên hành tinh chúng ta , thân to cở chim bồ câu , màu lông đen tuyền , nhưng cũng có một vài nơi vùng tuyết lạnh ta thấy có loại quạ lông màu xám . Quạ sống từng cặp , nhưng rất đoàn kết với nhau khi hữu sự . Thức ăn thông thường của quạ là  trùn , dế , cào cào , châu chấu , ếch , nhái , kỳ nhông , rắn mối ...v.v..và những khi phải nuôi con quạ cũng chiếu cố cả gà , vịt con .






     Trong thời gian có con , vì bản năng sinh tồn , quạ vô cùng năng động và tỏ ra cực kỳ khôn ngoan . Tôi đã từng chứng kiến một cảnh bắt gà con vô cùng  ngoạn mục của 1cặp quạ . Chúng ta ai cũng biết là trong tất cả loại gà , nuôi con hay nhất phải kể là gà mái nòi . Mỗi khi có điều nguy hiểm đến đàn con , gà nòi mẹ kêu lên những tiếng báo động , lập tức đàn gà con chạy tản ra , núp vào các bụi rậm , trong khi đó , gà mẹ lăn xả vào đánh nhau với kẻ thù để bảo vệ đàn con . Một con quạ cha hay quạ mẹ sau nhiều lần toan tính bắt gà con đều thất bại . Chúng bèn thay đổi phương cách áp dụng"kế điệu hổ ly sơn"  của Tôn-Vỏ-Tử ,  trong khi một con quạ vừa đánh vừa dụ gà nòi mẹ ra xa , thì một con quạ khác lợi dụng chui vào lùm bụi để bắt lấy một chú gà con .




gà tàu 



gà mái nòi

    Chú Mười Hoành có một chuồng gà khoảng hơn trăm con , trong đó có gần chục gà mẹ với đàn con . Thời gian gần đây , kiểm đàn gà thấy thiếu đi vài gà con ,chú Mười  bỏ công đi tìm mấy con gà lạc nhưng không thấy , tìm ở những vũng , ao cũng không thấy xác ( gà con nếu bị té xuống ao , thường chết đuối vì không biết bơi ) , trong vùng từ lâu cũng không ai thấy có bóng dáng chồn , trăn hay rắn hổ hành là những hiểm hoạ của gà.

     Sau một thời gian truy tìm ,chú Mười  biết được thủ phạm chính là cặp quạ làm tổ trên ngọn 1 cây săn đá ở cuối vườn của một người hàng xóm và để nuôi đàn  con , cặp quạ cha , mẹ này đã đánh cắp của chú hết mấy chú gà con . Biết được thủ phạm , chú Mười hăm hở leo lên cây , quyết bắt giết mấy con quạ con để trả thù . Tuy nhiên , Chú đã quên rằng quạ sống rất đoàn kết  , do đó khi chú đang leo lên cây , con quạ còn ở tổ để trông đàn con , kêu lên những tiếng báo động , thì chỉ vài mươi giây , vài phút sau , hàng chục con quạ sống trong vùng đều bay đến hợp lực với cặp quạ . Đàn quạ vun vút lăn xả vào mổ cắn chú Mười . Vì không dự tính được tình thế , nên chú phải tay không chống trả tứ phía những tấn công của đàn quạ , nhưng mảnh hổ nan địch quần hồ  nên cuối cùng chú bị xẩy tay  và rơi xuống đất . May thay , chú lại rơi đúng một cái mương có nước  nên không bị thương , mà chỉ hết hồn  .





     Con người vốn là sinh vật tối thượng , thế mà chú lại thua xiểng-liểng trước đàn quạ , chú Mười tức cành hông , lủi thủi về nhà , phân bua cùng hàng xóm . Rồi tất cả quyết tâm cùng nhau đi trị tội lũ quạ 

     Rút kinh nghiệm lần thất bại trước , kỳ này việc ra quân được chuẩn bị chu đáo hơn :nhiều người mang giàn thun , thùng thiếc , gậy gộc  ..v.v . Riêng chú Mười trang bị ngoài một khúc cây ngắn còn thêm cây đuốc dài và lớn , chú hăm hở leo lên hốt ổ quạ

     Cũng như lần trước , khi nghe đồng loại báo động , đàn quạ khắp nơi kéo về tham chiến , nhưng lần này ,điều thắng-bại đã thấy rõ , tuy cũng vùn vụt lăn xả vào tấn công chú Mười , nhưng đàn quạ phần nào cũng chột dạ vì âm thanh của tiếng đập thùng thiếc  , lại còn phải luôn tránh những lằn đạn phát từ những chiếc giàn thun và những tia lửa từ cây đuốc mà chú Mười múa lên vun vút .


    Sau những phút giây chiến đãu trong vô vọng , đàn quạ giãn ra và từ từ tháo lui , bay đi .Chỉ riêng cặp quạ cha , mẹ còn nấn ná đến phút chót  chứng kiến trong bất lực  cảnh kẻ thù leo tận ổ bắt 3  quạ con to cở chim bồ câu mới ra ràng .

Cuối cùng cặp quạ buông những tiếng kêu khàn đục  và bay đi .
     
Chú Mười Hoành hể hả , tụt xuống , cùng đoàn quân thắng trận vui sướng trở về nhà





rắn hổ mang chúa

                                                                                           
 2 - Rắn và tôi .

Rắn là loại động vật bò sát hiện diện khắp nơi trên trái đất . Có hàng nghìn loại rắn khác nhau , từ loài cực nhỏ chỉ nặng vài gramme như rắn hổ thiếc , đến rắn anaconda ở Nam Mỹ dài hơn 8 mét , nặng mấy trăm kí lô .

rắn anaconda

Rắn có loại sống trên khô , có loài sống dưới nước , có loại đẻ con , có loài làm ổ  và đẻ trứng như một loại rắn hổ ở Úc Châu


rắn nước - couleuvre
rắn mái gầm
rắn biển

    Rắn có loại thật hiền như rắn nước ( couleuvre ) hoặc không độc như rắn bông súng , ri cốc , ri cá , ri giông , ri voi  v...v ..nhưng cũng có loại mà nọc vô cùng nguy hiểm, có thể làm chết người hay bất kỳ con thú to lớn nào trong một thời gian thật ngắn như : rắn hổ , mái gầm , mai hoa , rắn biển  v...v.. Nhưng dù thuộc bất kỳ loại nào , rắn đều có chung một đặc tính là dùng tia hồng ngoại qua chiếc lưỡi để định hướng và săn mồi ngoài ra dù độc đến đâu , rắn đều rất kiền giống người , thường chỉ tấn công để tự vệ ( như khi bị dẩm phải ) .

 Việt-Nam thuộc vùng khí hậu nóng và ẩm , nhiều cây cỏ , sông rạch  thích hợpcho rắn sống , nên ở V.N có khá nhiều loại rắn , nhất là vùng đồng bằng Cửu Long .

   Trong kho tàng văn chương V.N , rắn được đề cập qua một số chuyện tiêu biểu như ‘’ bạch xà, thanh xà ‘’ , ‘’ Thị Lộ và rắn báo oán ‘’( tức chuyện Nguyễn Trải bị tru di tam tộc ) , ‘’ vụ án thanh trúc xà ‘’ ( tức chuyện kể về một người trai miền núi vừa lập gia đình , anh vào rừng đẳn tre về làm 1 chiếc giường ngủ cho hai vợ chồng. Chẳng may đêm đến anh đột ngột chết . Mẹ anh không ưa nàng dâu nên đi thưa với nhà chức trách rằng cô dâu đã đầu độc con trai bà .Nhưng nhờ sự sáng suốt của ban điều tra , biết được nguyên nhân chính là nọc của con thanh trúc xà , sống trong một ống tre của chiếc giường ngủ đã giết chết chú rể , nhờ đó mà cô dâu thoát được hàm oan .

    

thanh trúc xà

     Phần tôi , tuy tuổi nằm trong tứ hình xung ( dần , thân , tỵ , hợi ) nhưng trong cuộc sống  không có gì kỵ với rắn , ngoài ra ,  còn có không ít  kỷ niệm về rắn .

rắn hổ ngựa

   Kỷ niệm đầu tiên là với rắn hổ ngựa  . Trong nhà là rắn rồng , ngoài đồnglàrắnhổ ngựa, rắn hổ ngựa thật dể nhận dạng vì có một sọc đen dài từ đầu đến cuối đuôi , là loại rắn hổn nhất  nhiều khi dám tấn công người mà không phải vì tự vệ .

rắn phùng bàn nạo


 Năm đó , tôi khoảng 12 , 13 tuổi , một hôm cùng 1 thằng bạn ra ruộng câu cá rô . Chúng tôi có đem theo 1 lưỡi câu lươn ( lươn thật khoẻ , nên nhợ câu phải thật chắc  mới có thể trục lươn ra khỏi hang ) . Đến 1 bờ ruộng , thấy 1 con rắn hổ ngựa to cở bắp tay nằm khoanh trong hốc một gốc trâm bầu . Chúng tôi dùng sợi dây nhợ câu lươn thắt nút một , đặt trước miệng bộng , rồi dùng cần câu khều nhẹ phía sau hốc để đuổi rắn trườn ra , 2 đứa sẽ siết nút dây thắt cổ  rắn . Điều xảy ra ngoài dự liệu là con rắn không trườn mà phóng ra thật nhanh khiến 2 đứa bị hụt . Nó nổi hung , quay lại tấn công chúng tôi . Chúng tôi phải chạy thục mạng để thoát thân, hậu quả là 2 cần câu bị gảy và chiếc giỏ đựng cá cũng không còn .


    Cũng trong năm đó , một hôm thằng bạn tôi kêu ‘’ ê Điệp ơi , có 1 con rắn hổ ngựa ‘,với 1 cái giàn thun và 1 cây gậy  cù nèo , tôi vội vả chạy đến lúc con rắn  từ dưới rạch đang bò lên hương lộ . Thấy chúng tôi , nó bò trở xuống , lội qua rạch để lên 1 liếp sầu riêng  . Tôi trao giàn thun cho thằng bạn và xách gậy chạy vòng qua chặn đầu rắn . Con rắn sắp lên liếp sầu riêng , thấy tôi thì khựng lại . Tôi dan thẳng tay đập cây gậy  vào mình rắn . Nó  né tránh , do đó gậy chỉ chạm phớt chót đuôi. Con rắn nổi hung , phóng lên tấn công tôi . Tôi hoảng sợ , vừa chạy vừa la làng . Cuối cùng thì tôi cũng thoát nạn , nhưng mặt lúc đó không còn chút máu .
    
  Một lần khác , tôi đang  luyện chưởng năm thứ 7 ở miền Bắc . Khi đó , tôi là tài xế xe trâu của đội lâm sản . Trong số 1500 ctv của trại tù , tôi là 1 trong 2 tài xế xe trâu , điều này còn ngon lành hơn là lái Ferrari ở ngoài đời , vì hàng ngày khi lái xe trâu để chở 2 chuyến củi từ rừng về trại , không có anh áo vàng nào theo bảo vệ an ninh , nhờ đó tôi có dịp đặt bẩy bắt chim rừng và cấm câu bắt cá để cải thiện thêm cho việc ăn uống .




  Lần đó, xe trâu tôi đang đổ dốc 1 cái đồi nhỏ , thì trước mặt tôi có 1 con rắn hổ ngựa đang băng qua đường mòn. Tôi ra lệnh cho con trâu dừng lại . Dù thật khôn nhưng con trâu của tôi cũng không tránh khỏi  phản ứng theo bản năng  , do đó nó ngạc nhiên quay đầu nhìn tôi và chỉ ngưng lại sau mấy lần nghe tôi hét . 

    Lúc này con rắn đã bò xuống ruộng mạ vừa cấy . Hôm đó , tôi lại không may , cây gậy và cái dao lớn bị tù hình sự lấy cắp , tôi chỉ còn con dao nhỏ cở gang tay . Tôi nhìn quanh và nhặt 1 nhánh tre dài 5, 6 tấc ( có còn hơn không ) rồi chạy vòng bờ đê chặn đầu con rắn . Thấy tôi , rắn quày đầu lội qua ruộng khác . Tôi lại chạy đi chặn đầu . Sau nhiều lần bị chặn , con rắn khựng lại dưới ruộng . Tôi phần vì đang mang giày , lại không muốn lội dẩm lên mạ , nên dùng 1 cục đất nhỏ ném đuổi con rắn . Nó bổng nổi hung , phùng bàn nạo và phóng lên tấn công tôi . Không hoảng sợ như hồi còn nhỏ vì tôi đã biết chút ít vỏ , tôi dùng nhánh tre đánh  con rắn văng xuống ruộng , đập liên tục cho rắn đuối sức rồi vít nó lên bờ đê và dùng con dao chặt đứt đầu  .Sau đó , tôi mang chiến lợi phẩm con rắn cùng vài con chim bẩy được về trại làm 1 bửa tiệc đải bạn bè .

    



Đây  chỉ là vài mẩu chuyện nho nhỏ về rắn , chứ thực ra vì quê tôi thuộc đồng bằng Cửu-Long có vô số rắn , nên tôi cũng được mục kích không ít chuyện về rắn 

   


rắn và nhái
.
    Ngay từ khi còn bé , những lúc nước rong ( dịp trăng tròn ) , nghe trong đám lá mái dầm hay trong bụi ô rô những tiếng kêu ẹo ẹo tôi biết ngay là 1 chú ếch con hay 1 con nhái nào đó đang bị rắn nước xơi tái .

rắn trun
rắn trun

     Đôi lần , tôi còn được chứng kiến những trận thư hùng giữa lươn và rắn . Rắn đây là loại rắn trun , bình thường không biết chúng sống ở đâu , nhưng vào mùa lạnh , thỉnh thoảng  ở những mươn lạn nước xâm xấp , tôi gặp lươn và rắn ( có khi 2, 3 cặp ) đang đánh nhau . Chúng cắn , quấn , cuộn , siết lấy nhau .
Rắn có lợi điểm nhờ răng nhọn và nọc độc , còn lươn thì khoẻ  và trơn tuột .

    
Nếu lươn lớn hơn thì cả 2 sẽ chết hết , còn nếu lươn chỉ  bằng hoặc nhỏ hơn rắn thì thường là lươn chết trước vì ngấm độc .


 Tôi không ưa rắn nên hay can thiệp , dùng giàn thun hoặc chỉa giết rắn để cứu lươn . Nếu còn khoẻ thì lươn lợi dụng để chạy thoát , bằng không thì rồi cũng chết .

    Tôi đem xác rắn gác lên cây cam nuôi kiến vàng , còn xác lươn thì vứt xuống sông vì người ta cho rằng  kiến ăn thịt lươn sẽ mọc cánh bay hết ( điều này không  được kiểm chứng  ) .


    Rồi do hiếu kỳ và tánh ham vui , nhiều lần tôi được tham gia câu rắn với người lớn .Rắn câu thường là loại ri cốc , ri cá , ri giông , ri voi ......, to cở bắp chân và dài hơn 2 mét . Chúng thường ở trong hang gần bờ sông , nơi vắng vẻ đầy cây gai ô rô , cốc kèn.Người có kinh nghiệm , nhìn vết da chúng ịn lên bùn có thể biết được loại rắn.


    
rắn ri voi
rắn ri cá


  Mồi câu rắn thường là  con cá trê  còn sống , được móc vào 1 lưỡi câu to với nhợ thật chắc . Cá lội vào hang sẽ bị rắn ăn . Do cấu trúc của răng , khi đã ăn mồi rắn không thể nhả ra mà phải tiếp tục nuốt . Đợi rắn mắc câu, người ta một mặt dùng sức kéo , đồng thời dùng xuổng đào hang  để bắt rắn .

    Loại rắn ăn cá thịt không ngon , nhưng da rắn bán cho người Hoa để làm ví , giày , dây nịt ...v.v .thì khá được giá .



rắn hổ hành


Quê tôi  có 1 loại rắn khá đặc biệt rắn hổ hành , tuy gọi là rắn hổ nhưng dường như  không có nọc độc  và luôn toả ra mùi thơm của hành hương . Trong đêm , gà trong chuồng sẽ la rộ lên nếu có kẻ trộm hay chồn , nhưng nếu gặp rắn hổ hành thì gà kinh sợ mà không dám la  ( lợi dụng  điều này , những tay trộm nhà nghề thường giả hành hương thoa vào tay để trộm gà một cách êm thắm )     .

    Người ta cho rằng rắn hổ hành có khả năng khử phong . Do đó , nếu bắt được rắn ,   người ta  thường đem lăn khắp mình mẩy của trẻ con để trừ phong .

     .

rắn lục


Rắn lục  có thật nhiều ở quê tôi , đó là loại rắn độc nhưng nhác . Chúng  sống trên cây  hoặc  trong nhà  để săn mồi thường là chuột , dơi muổi , chim , bọ ngựa v. v. . và   tôi  có một kỷ niệm nhớ đời với  loại rắn nầy .

    Năm đó tôi học lớp đệ nhị ở trường tỉnh , nhưng  cuối tuần lúc  nào  cũng về quê  và khi trở xuống tỉnh , tôi thường hái đem theo mận , cốc , ổi ...v.v .để ăn trong tuần . Lần đó đang mùa mận , tôi đang dùng  lồng để hái mận thì thấy 1 cặp rắn lục cườm đang yêu nhau trên cây mận. Tánh nghịch nổi lên , tôi dùng giàn thun bắn vào cặp rắn . Một con bị trúng đạn đứt đầu và rơi xuống đất . Con  kia hoảng sợ , theo nhánh mận bò nhanh qua mái nhà . Tôi nhặt xác rắn đem gác lên cây cam để nuôi kiến , rồi tiếp tục hái mận  . Lát sau , tôi linh cảm có gì là lạ . Thì ra con rắn vừa chạy thoát  vẫn luôn bám theo tôi . Để kiểm chứng , tôi xê dịch khi tới , khi lui và con rắn với chiếc lưỡi lo le  , cũng theo sát tôi . Tôi bèn dang ra xa mái nhà để dụ con rắn bò qua cây mận và nó bị mắc mưu  . Tôi lắp đạn vào giàn thun và nhắm bắn  , lần này phần may về phía con rắn , nhánh mận to đã đở đạn cho nó , thoát chết , con rắn bò lẹ qua mái nhà và  vẫn theo tôi nhưng không dám qua cây mận nửa ( dù tôi cố ý dụ nó nhiều lần ) . Không thể dùng giàn thun , vì dù có giết được rắn , ngói cũng sẽ bị bể , do đó tôi vào nhà lấy cây chỉa  đem ra đâm con rắn . tôi đâm trượt , lần này con rắn hoảng sợ trốn biệt  .

    Không biết chuyện Thị Lộ và rắn báo oán có không , nhưng đêm đó trước khi ngủ tôi đã tấn chiếc mùng như một chiến luỷ  và sáng hôm sau tôi khăn gói trở xuống tỉnh ngay  mà không đợi đến  chiều như thường lệ .

    

rắn râu



    Quê tôi còn có một loại rắn cũng khá đặc biệt rắn râu .Tôi chưa hề quan sát thật kỷ để biết là nó có râu hay không , nhưng nọc của nó thì quả là đặc biệt . Ai bị rắn râu cắn sẽ không cảm thấy đau đớn , nhưng sẽ ngủ vùi và chết .

    Ở quê tôi , trước khi vở đất ( cày , bừa , trục ) người nông dân thường dùng phãng phát cỏ lác ngả rạp xuống . Đây cũng là dịp để cá lia thia làm tổ đẻ và cũng là lúc rắn râu thường đến săn lùng cá để ăn . Nếu không cẩn thận , vẹt lớp lác , thấy có ổ cá lia thia , thò 2 tay xuống bắt cá ,ta  có thể bị rắn râu cắn chết . Trong xóm tôi đã có người là nạn nhân của rắn râu , nên Mẹ tôi cấm tuyệt không bao giờ cho tôi được đi hớt cá lia thia .


    


rắn hổ đất


 Về loại rắn hổ đất  thì quê tôi không có nhiều, nhưng hàng năm vào mùa nước nổi , từ vùng Đồng Tháp nhiều xuồng chở đầy rắn được đem đến bán ở chợ quận tôi .Rắn nhốt trong lồng kẻm , hàng trăm con bò lổn ngổn . Khách mua chỉ con nào , thì người bán với bàn tay trần thò vào lồng bắt con rắn đó , cột cổ , giao cho người mua .

 Nọc rắn hổ đất thuộc loại kịch độc, nhưng tại sao người bán lại không chút e dè ? . Nghe nói , rắn kỵ : tỏi , diêm sinh , hồng hoàng ..v.v.   nên người ta dùng những chất đó thoa vào tay , nên rắn không dám cắn ( điều này đúng , sai không rỏ ) .

    


 Nhân nói về nọc rắn , năm 1964 khi học ở Sài-Gòn , có lần dạo chơi ở chợ chim ( khu chợ cũ ), tôi thấy 1 Ông Đạo Sĩ bày bán trên vĩa hè nào : mật gấu , nanh heo rừng , sừng tê giác , những keo rượu ngâm rắn , bìm bịp ..v.v ..  Tò mò tôi đứng xem , thì ông mời mua giùm cục ngọc rắn có màu nâu xám , hình khối chữ nhật , to cở 2 lóng tay . Theo lời Ông quảng cáo thì ngọc có khả năng hút tất cả loại nọc rắn , rết , bọ cạp , ong , chó ..v.v . , giá mỗi cục chỉ 5 đồng .Thấy không đắt , tôi mua 2 cục : 1 cục ngọc rắn  gởi về quê cho Mẹ tôi , cục kia tôi giữ  và ngẩu nhiên tôi trở thành người chửa chó cắn cho hàng xóm . Ai bị chó cắn , đến gặp tôi , tôi đặt cục ngọc rắn lên vết thương  , nó sẽ hút  nhẹ như nam châm hút sắt , hút hết nọc thì tự động rớt ra . Đem cục ngọc rắn bỏ vào 1 ly rượu đế , tuỳ nọc nhiều hay ít bọt sẽ sủi lên như bọt bia hay bọt sâm banh . Khi ly rượu không còn sủi bọt , đem cục ngọc rắn phơi khô để dùng lại .
cục ngọc rắn



    Tôi không biết Ông Đạo Sĩ đã chế ngọc rắn bằng những dược liệu gì , nhưng hiệu quả rất tốt . Tiếc thay  khi tôi đi lính , tất cả những gì quý của tôi trong đó có cục ngọc rắn , gởi nhà Cô tôi ở Q5 Chợ Lớn năm 1968 bị CS đốt cháy sạch .


    Nọc rắn tính về giá trị thương mải còn mắc hơn bạch kim ( platine ) và vàng . Không biết ở V.N ngày nay có ai khai thác không ? , nhưng ở Pháp có những cơ sở chuyên nuôi rắn và bọ cạp để  lấy nọc . Ngoài ra cũng có một số người không chuyên nghiệp dùng chiếc kẹp cán dài lùng bắt rắn lục ở những hàng rào hoặc những lùm bụi để lấy nọc rắn bán cho những viện bào chế .


    

   Rắn là một sinh vật lắm khi cũng gây nguy hiểm cho con người , nhưng rắn cũng rất hữu ích vì chuyên diệt chuột , bọ ( một tai ách của nhân loại ) , do đó đặc biệt là ở nước ta ,vì lợi ích lâu dài  giới hữu trách cần nên có kế hoạch hữu hiệu để tránh việc tàn sát rắn .


                                             Paris , hè 2008
                                          Kỷ niệm về chuyện đồng quê

                                                            

                                                                                        

mercredi 28 janvier 2015

Bên lề trận hải chiến Hoàng Sa






 Bên lề trận hải chiến Hoàng-Sa .

( Bài BLTHCHS đã được đăng trong Bản Tin của K17SQHQ/NT " Tình Đại Dương " năm 2004 .
 Nay viết lại cho xác thực hơn ) .

    Sau trận hải chiến Hoàng-Sa , tôi được lệnh của Bộ Tổng-Tham-Mưu viết một bản phúc trình và trao tận tay  Ông Đại Tá Phạm .Văn . SƠN -Giám-Đốc Khối  Quân-Sử  mà không qua hệ-thống Tham-Mưu Hải-Quân .
    Đến nay đã hơn 36  năm, do những năm dài cải tạo và bụi thời gian đã làm tôi quên đi nhiều chi tiết cũ , vã lại đã có nhiều bài viết rất giá trị về đề tài này ,do đó tôi chỉ xin góp thêm chút tiếng nói dưới góc nhìn chủ quan của một  chứng nhân . .

    Ngày 15 tháng 01 năm 1974 , tôi nhận lệnh của Phó Đề Đốc Tư-Lệnh HQ/V1DH đi công tác đảo Hoàng-Sa .
    Trước đó 6 năm , khi phục vụ ở Hải-Vận-Hạm Hậu-Giang HQ 406 ,tôi cũng suýt được đi công tác ở quần đảo này , nhưng do trở ngại kỹ-thuật nên chuyến đi bị huỷ bỏ . Do đó , đây là chuyến công tác Hoàng-Sa đầu tiên và cũng là lần chót của tôi ( vì ngày nay cả quần đảo này đều nằm trong tay lũ cướp Tàu đ̉ỏ ) .

    Nhóm  công tác của chúng tôi gồm : Thiếu Tá Hồng (QĐ1/P3 ) , Trung-Uý Hà , Tr/U Đá và 1 nhân viên thuộc 2 LĐ 8 và 10/CBCĐ/QĐ1 , 1 nhân viên của cơ quan DAO phục vụ tại Toà Tổng Lảnh Sự Mỹ ở Đà Nẳng  ( Ông Gerald KOSH ) và tôi  Đại Diện của HQ/V1DH .

    Chúng tôi trực chỉ HS bằng phương tiện Tuần-Dương-Hạm Lý-Thường-Kiệt HQ16 với nhiệm vụ là thám sát đảo Hoàng-Sa để nghiên cứu lập 1 phi đạo cho vận tải cơ C7 Caribou .

    Tôi vừa thuyên chuyển ra V1DH  cuối năm 1973 , chưa biết nhiều về HS , nhưng qua tài liệu tham khảo thì  Quần đảo HS  có hơn 100  đảo lớn nhỏ nằm giữa kinh tuyến 111°- 113° Đông và vĩ tuyến  15°45 - 17°05 Bắc  . Đảo gần VN nhất là đảo Tri-Tôn ( Triton Island ) cách mũi Ba Làng An ( Đà Nẳng ) 170 hải lý ( 1 hl = 1852 mét ) trong khi đảo gần nhất Hải-Nam của Trung Cộng  khoảng  hơn 325 km 
     Quần đảo Hoàng Sa  gồm 2 nhóm : 

    Nhóm Bắc Đảo ( Amphitrite Group ) tức nhóm An-Vĩnh hay Tuyên Đức ( tên An Vĩnh lấy từ tên Xã An-Vĩnh , Huyện Bình-Sơn , Tỉnh Quảng-Ngải ) có 8 đảo lớn: Phú Lâm , Cù Mộc , Lincoln , Trung , Bắc , Nam , Tây , Hòn Đá - trong đó  đảo Phú-Lâm là lớn nhất  rộng 3 cây số vuông .

 


     Nhóm Nguyệt-Thiềm ( Crescent Group ) có 7 đảo lớn : Hoàng Sa ( Pattle Island  là đảo chính của quần đảo HS  nhưng  diện tích chỉ là 0,32km vuông ) , Cam Tuyền ( hay Hữu Nhật , Robert Island ), Duy Mộng ( Drummond Island )  , Quang Ảnh( hay Vĩnh Lạc Money Island ), Quang Hoà ( Duncan Island : là đảo lớn nhất của nhóm Nguyệt Thiềm , trận hải chiến đã xảy ra ở phía Tây của đảo này  ) , Bạch Quỷ ( Passu Keah Island ) và Tri Tôn 


     Thời chúa Nguyễn , đội Hoàng Sa hàng năm đều có ra  quần đảo HS để tìm trân châu , mả nảo và thu nhặt những vật dụng hữu ích do các tàu ngoại quốc bị chìm và trôi dạt vào quần đảo này ( chính đảo Cam Tuyền hay Hữu Nhật và Vĩnh Lạc hay Quang Ảnh là tên của 2 Đội Trưởng  Nguyễn-Hữu-Nhật và Phạm-Quang-Ảnh thuộc đội Hoàng Sa của chúa Nguyễn )

     Thời Pháp thuộc , người Pháp đã xây trên đảo Cù Mộc 1 đài quan trắc khí tượng và 1 ngọn hải đăng  mang danh số quốc tế 48 859 ( 48 là Vùng Đông Nam Á , 859 là vùng Hoàng Sa )  , xây trên đảo Hoàng Sa 1 đài khí tượng đi vào hoạt động năm 1938 ( sau hiệp định Genève  Ty Khí Tượng Đà Nẳng của VNCH tiếp tục xử dụng cho đến 19/01/1974 )  và 1 hải đăng mang danh số 48 860.
      Ngoài ra , vào đầu thế kỷ 20 người Pháp còn cho phép công ty Motsli Bussan Kaisha của Nhật Bản được đặc quyền khai thác  phosphate  ở quần đảo HS mà theo ước tính có trử lượng khoảng 11 triệu tấn .

       Sau Đệ Nhị Thế Chiến ,tháng 6 năm 1946 Pháp phái chiến hạm Savorgnan De Brazza tái chiếm lại quần đảo HS từ tay người Nhật , nhưng sau đó do cuộc chiến ở  VN ngày càng  ác liệt , Pháp bỏ ngỏ quần đảo HS  , Tưởng Giới Thạch ( với sự  giúp đở của Mỹ ) với danh nghĩa ‘’ Giải Giới Quân Nhật ‘’ đã lợi dụng  để chiếm lấy nhóm Bắc Đảo  ( ngoài ra còn chiếm đảo Ba Bình hay Thái Bình- Itu Aba  của quần đảo Trường Sa ) và cho xây dựng trên đảo Phú Lâm 1 căn cứ quân sự lớn với cảng Hải Quân , phi đạo cho máy bay  , Pháo Binh và hệ thống phòng thủ kiên cố .

       Ngày 13 tháng 01 năm 1947 , Pháp lên tiếng phản kháng việc chiếm đóng bất hợp pháp của TH đồng thời phái chiến hạm Le Tonkinois ra HS , nhưng sau đó lại quay về giữ  đảo Hoàng Sa .

       Năm 1949 , khi Tưởng Giới Thạch bỏ Hoa Lục chạy  ra Đài Loan , họ cũng rút quân ở đảo Phú Lâm và đảo Thái Bình ( TS ) về và  ngày 20 tháng 02 năm 1956 , sau khi làm chủ Hoa Lục  7 năm ,  Trung Cộng mới cho quân chiếm đóng  lại  đảo Phú Lâm .

       Dưới thời VNCH , nhóm Nguyệt Thiềm vẫn thuộc chủ quyền của ta và do 1 đơn vị TQLC trấn thủ , quân số có khi lên đến 1 Tiểu Đoàn ,  nhưng do nhu cầu chiến cuộc  ác liệt  chống CSBV xâm lược , TQLC phải rút vào đất liền và giao trách nhiệm giữ đảo lại cho 1 Trung Đội Địa Phương Quân thuộc Quân Khu 1 . Ngoài ra , ta tiếp tục quản lý và khai thác Đài khí tượng Hoàng Sa để dự báo tin tức khí tượng cho đất liền trước 48 giờ .                             
                                                     *      *
                                                         *  
        Trên đường đến đảo HS , HQ16 phát hiện trên màn ảnh radar 2 đối vật lạ , liền báo cáo về TTKS/V1DH và nhận được lệnh sau khi đưa nhóm  công tác lên HS lập tức tiến về nơi có 2 đối vật .



    Chúng tôi được 1 tiểu đỉnh của HQ16 chở vào đảo HS. Phải thật khó khăn và vận chuyển thật khéo tiểu đỉnh mới cập bến an toàn , vì  vùng biển HS tuy rất sâu , nhưng các đảo đều bao bọc bởi vòng đai san hô và lối vào đảo Hoàng Sa thật hẹp, nếu chạm phải  san hô vỏ tàu sẽ bị thủng .

    Cũng như các đảo khác , đảo HS không cao lắm so với mặt biển ( khoảng vài mét ) , thảo mộc thì chỉ một ít lùm bụi thấp và rau sam . Đảo không có đất mà chỉ có loại cát vô cơ do võ sò , ốc vở vụn cấu thành , nhưng dưới lớp cát vài tấc là lớp phốt- phát óng ánh  .
    Thời Pháp thuộc và khi họ chiếm đóng , người Nhật  đã khai thác nguồn phân này . Đến thời Đệ I Cộng-Hoà , Bà Ngô-Đình-Nhu tiếp tục , nhưng việc khai thác thất bại và bỏ dở vì việc chuyển phốt-phát ra tàu lớn gặp khó khăn . Đến năm 1974 , đường rail dẩn đến bìa đảo vẫn còn , riêng cây cầu để tàu nhỏ cập thì không còn xử dụng được nửa .
    Trên đảo HS có một giếng nước , nhưng nước lờ lợ không dùng nấu ăn được . Nước ngọt để dùng thì phải hứng từ nước mưa và chứa trong 1 hồ xi-măng hoặc được tiếp tế từ đất liền do tàu HQ chở ra .
    Hai dãy nhà do người Pháp xây đã sụp hết một dãy do thiếu kiên cố vì xây bằng cát vô cơ . Dãy còn lại dùng làm nơi làm việc và  ở  cho 4 nhân viên Ty Khí Tượng Đà-Nẳng ( trong đó có Ông Trưởng-Ty hoặc Phó Ty luân phiên nhau ) và đội quân trấn đảo .
    Về khí tượng thì vì nước ta nghèo , thiếu phương tiện tối tân nên đúng giờ quy định thì nhân viên khí tượng thả bong bóng bay lên trời rồi đo đạc , tính toán , dự đoán trước 48 tiếng  và báo cáo cho Đà-Nẳng .
    Riêng về đội quân trấn đảo , tiếng là ‘’trấn thủ ‘’nhưng thực ra là đi tù . Họ gồm 22 quân nhân diện vô kỹ-luật thuộc những Đại-Đội ĐPQ  của Quân-Khu 1, do 1 viên Sĩ-Quan cấp bậc Tr/U cũng vô kỹ-luật được chỉ định làm Trưởng Toán ( Đây là điều sai lầm vô cùng to-tát của các cấp lảnh đạo  đã xem nhẹ và để mất  quần đảo quý báu này ) .Vì là thành phần bị đi đày nên trong thời gian từ 3 đến 6 tháng ở đảo , họ không hề có tôn ti , cấp bậc  mà sống theo ‘’luật của kẻ mạnh ‘’ và tất cả vũ-khí đều phải cất vào kho để tránh trường hợp họ dùng để thanh toán nhau .
    Lương thực , thực phẩm mang theo thường được phung phí thật nhanh , sau đó hàng ngày toả ra  bìa đảo để mò sò, ốc , bắt cua , cá , mực sống qua ngày . Vùng biển HS  rất giàu hải sản , đặc biệt  có loại ốc tai tượng rất to  . Khi chúng tôi đến đảo thì được viên Sĩ-Quan Trấn Đảo  Tr.U HY đải món khô gân ốc tai tượng nướng  ăn khá ngon miệng .
    Trên góc Tây-Nam đảo HS  có một cái miễu Bà rất linh ( miểu xây đồng thời với 1 bia chủ quyền theo sắc lệnh của vua Minh Mạng ) . Việc đầu tiên khi đặt chân đến đảo là toán quân trấn thủ nào cũng vật heo làm lễ cúng linh-đình và tuyệt đối không bao giờ dám bắt cá gần khu vực miễu .

    Trong thời gian ở trên đảo HS , theo dỏi liên lạc truyền tin giữa HQ16 và BTL/HQ/V1DH tôi được biết  2 đối vật  mà HQ 16 phát hiện trước đây là 2 ngư thuyền võ trang của Trung Cộng  . Một số quân nhân trên đảo còn cho tôi biết  là trước đó vài hôm một số người Tàu đã lên đảo đổi chác thuốc hút và nước uống .
    Tôi hỏi viên Tr/U trấn đảo tại sao không báo về Vùng , thì Ông trả lời là’’ máy vô-tuyến PRC25 không thể gọi xa ‘’ . Tôi hỏi Ông Trưởng Ty Khí Tượng tại sao hàng ngày báo tin thời tiết cho Đà-Nẳng lại không báo cáo về việc này .Ông đáp ‘’đó là nhiệm vụ của Ông Tr/U ‘’. Rõ-ràng là cả 2 đều tắc-trách và thiếu sự phối hợp với nhau .Như đoạn trước tôi đã đề cập , do cái nhìn thiếu sáng suốt của giới hữu trách đã không thấy được vị-trí chiến lược  của quần đảo xa-xôi này cũng như  đã không ban hành lệnh phối hợp cho các đơn vị trên đảo nên đã để cho một phần lảnh thổ của ta lọt vào tay kẻ cướp .

    Sau khi anh em Công-Binh hoàn tất công việc chuyên môn , chúng tôi được HQ16 đón lên chiến hạm và trở lại nơi có sự hiện diện của 2 ngư thuyền võ trang Trung Cộng .   Hai tàu TC  thật ngoan cố , đã không chịu rời vùng lảnh hải của ta mà còn ngang ngược cho rằng ‘’quần đảo HS là của chúng ‘’.
    Rồi Khu Trục Hạm Trần-Khánh-Dư HQ4 được tăng cường đến  cũng dùng loa phóng thanh và cho nhân viên người Việt gốc Hoa yêu cầu 2 tàu TC rời quần đảo của ta . Đáp lại tàu TC vẫn ngoan cố và khiêu khích .. . Chỉ đến khi bị HQ4 húc nhẹ làm thụng 1 phần vách đài chỉ huy  , họ mới sợ hải kéo neo chạy  vào trong chỗ cạn cách đó vài cây số , nhưng không đi luôn mà chỉ cố tình trì hoản để chờ tiếp viện .

   Mọi diển biến đều được báo về BTL/HQ/V1DH , BTL/QĐ1, BTL/HQ và Bộ Tổng-Tham-Mưu . Trong khi ta điều động Tuần Dương Hạm Trần-Bình-Trọng HQ5 và Hộ Tống Hạm Nhật-Tảo HQ10 đến vùng HS thì Hải-Quân Trung Cộng cũng gởi nhiều Kronstadt   đến tăng viện . Cả hai bên đều triển khai đội hình và chờ lệnh  . Tình hình càng lúc càng căng thẳng , trận hải chiến chắc chắn phải xảy ra .

    Theo tinh thần ‘’Hiệp Ước An-Ninh h̉ổ tương’’ ta yêu cầu Đệ Thất Hạm Đội Hoa-Kỳ hổ trợ nhưng họ từ chối . Trong khi đó Ông KOSH của Toà TLS Mỹ ở Đà-Nẳng ( thuộc toán thám sát HS ) xin ‘’không dự chiến ‘’. Rồi lệnh từ BTTM gởi nhóm thám sát trở lên đảo HS, trừ tôi ở lại phụ giúp cho Ông Đại-Tá Chỉ-Huy-Hải Đội tham chiến , cũng nhờ đó tôi có dịp chứng kiến sự dũng cảm của những chiến-sĩ HQ/VNCH .

    Sau khi việc đổ bộ tái chiếm đảo Quang Hoà ( Duncan Island   ) thất bại , BTTM ra lệnh tấn công . Thế là trận hải chiến bùng nổ lúc 10 giờ 27’ ngày 19/01/1974. Ta vừa đánh vừa rút về phương Nam nhằm tránh tầm hoạt động của chiến đãu cơ  MIG của Trung Cộng 



    Trận đánh chỉ kéo dài khoảng  30  phút nhưng cường độ thật khốc liệt  .
    Ta thiệt mất 1 chiến hạm ( HQ10 bị đắm ) , một số chiến-sĩ anh-dũng hy-sinh trong đó có Cố HQ/Tr Tá Nguỵ Văn Thà Hạm-Trưởng HQ10 , Cố HQ/Th Tá Nguyễn Thành Trí Hạm Phó HQ10 ( Bạn cùng khoá với tôi và cũng là 1 tuyển thủ xuất sắc của Đội Bóng Chuyền HQ ) .

    Các chiến hạm HQ4 , HQ5 , HQ16 đều bị trúng đạn , hư hại nhưng trở về căn cứ được an toàn .


2 kronstadt của TC

    Riêng về tổn thất của Hải-Quân Trung Cộng thì thật nặng nề . Theo tài liệu ghi được của Ông Trần-Đại-Sỹ  ( không thấy  Trung Cộng phản đối )thì chiếc Kronstadt 274 và 4 ngư thuyền chở quân bị chìm .Chiếc Kronstadt 271 và 2 Trục Lôi Hạm 389, 396 bị hư hại nặng phải ủi bải và phá huỷ .Về nhân mạng  thì 24 Sĩ-Quan tử thương  trong đó có 1 Đô Đốc ( ĐĐ Phương  Quang Kinh , Tư lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải ), 4 Đại Tá ( ĐT Quan Đức , HT Kronstadt 274  ,ĐT Vương Kỳ Uy  HT Kronstadt 271 , ĐT Diệp Mạnh Hải , HT  Trục Lôi Hạm 398  ), 6 Tr.Tá ,  ( TR T  Triệu Quát , HT  TLH 389 ),  2 Thiếu Tá ,7 SQ cấp Uý .Đoàn viên và Thuỷ-Thủ tử vong khoảng 100 .

    Trở lại đảo HS , lợi dụng lực-lượng ta rút lui chiến thuật về phương Nam, Trung Cộng đổ quân lên chiếm đảo sau khi đã oanh kích và pháo kích dữ-dội đảo này .
   Theo Thiếu Tá Hồng cho biết sau này thì lực lượng TC đổ bộ lên đảo HS khoảng 1Tiểu Đoàn, chúng dàn hàng ngang lục soát và bắt được tất cả trừ  Ông KOSH người Mỹ phải lùng kiếm lần thứ 2 , do đó chúng nổi nóng tát tai ông này , nhưng sau đó được lệnh biệt đải ông ta .
    Rồi chúng chuyển tất cả ‘’tù binh ‘’ về đảo Hải-Nam và nhằm tuyên truyền về cách đối xử nhân đạo , chúng cho toán tù binh thăm viếng , tham quan cư dân trên đảo .Cũng theo Th/T Hồng thì đảo HN thật nghèo , đời sống dân chúng rất cực khổ ...điều này phù hợp với lời khai của 3 người Trung Cộng trốn khỏi Quảng-Đông ,dùng thuyền đến hải phận V1ZH và bị chiến hạm  ta bắt giải giao về BTL/HQ/V1ZH rồi sau đó trao lại cho Phủ Đặc-Uỷ Trung-Ương Tình Báo khai thác .
    Sau đó , TC  cho chuyển nhóm Chiến sĩ VNCH bị bắt làm tù binh về Trại Thu Dung ở Quảng Châu  ( tỉnh Quảng Đông ) để tiếp tục khai thác tin tức và tuyên truyền , khoe khoang khoác lác  về ‘’ sự thành tựu vượt bực và sự vĩ đại .. . của Trung Quốc ‘’ .
    Ngày 17 tháng 02 năm 1974 ( trừ Ông KOSH được thả trước ), Trung Cộng phải trao trả 43 tù binh VN lại cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế  ở Hồng Kông  và các chiến sĩ anh hùng này sau đó được  Đề Đốc Lâm Nguơn Tánh - Tư Lệnh Phó Hải Quân đến đón đưa về Việt Nam .


    Từ  trận hải-chiến HS có không ít bài học mà ta có thể rút tỉa :

Về phía Ta :

- Cấp Lảnh Đạo đã không có được cái nhìn xa rộng để thấy được sự quý giá của quần đảo HS, tuy xa xôi nhưng có vị trí chiến lược và giàu có về tài nguyên ( phốt phát , dầu hoả , khí đốt , hải sản .. .)  , nên đã không có phương sách hữu hiệu để bảo vệ .
- Do quá bận tâm đối phó với  kẻ nội thù  CSBV hung hiểm , nên đã thiếu cảnh giác về hoạ xâm lăng của giặc Tàu phương Bắc .Sớm quên bài học năm 1946 ( Tưởng Giới Thạch cướp nhóm Bắc Đảo của quần đảo HS ) nên lơ là trong việc  giữ  phần còn lại của quần đảo ( nhóm Nguyệt Thiềm ) .
- Lẻ ra nên mộ ngư dân và giúp phương tiện để họ có mặt , sinh sống và khai thác nguồn lợi kinh tế ở tất cả các đảo còn thuộc chủ quyền của ta và thay vì  để 1 đơn vị nhỏ của ĐPQ không có phương tiện di chuyển trấn đảo thì nên giao trách nhiệm cho 1 đơn vị Hải Quân được trang bị những ngư thuyền vỏ trang , để vừa khai thác tài nguyên phong phú vừa luôn liên lạc được với tất cả đảo trong nhóm .

-    Về phía Đồng Minh và Quốc Tế :

- Đồng Minh Mỹ đã phản bội và đâm sau lưng chúng ta . Vì quyền lợi riêng tư họ đã bật đèn xanh cho phép Trung Cộng cưởng chiếm quần đảo HS của VNCH . Theo tài liệu mật của Toà Bạch Ốc  sau này được giải mả thì ngày 20 tháng 6 năm 1972  , tại Đại Sảnh Đường Nhân Dân ở Bắc Kinh , KISSINGER -Ngoại Trưởng Mỹ khi mật đàm với Chu-Ân-Lai - Thủ Tướng Trung Cộng , đã đồng ý để TC  chiếm giữ  toàn thể quần đảo HS ( nhưng không được bành trướng thêm ) , đổi lại TC sẽ áp lực với CSBV chấp thuận về đề nghị rút quân Mỹ ra khỏi VN .
Sau đó KISSINGER  còn khẳng định với Ngoại Trưởng Hoàng Hoa của TC  là ‘’ Mỹ sẽ ra lệnh cho Đệ Thất Hạm Đội tránh Xa nếu xảy ra tranh chấp ( chiến tranh ) giữa TC và VNCH ‘’.
Ngoài ra , còn một nguyên nhân tiềm ẩn khác là :’’ Mỹ  đồng ý để TC  lấp chỗ trống  , nhằm ngăn sự bành trướng  của Liên Xô ở vùng biển Tây-Nam Thái Bình Dương ‘’ khi Mỹ rút  khỏi VN .
Khi  trận HCHS xảy ra , Mỹ đã hoàn toàn giữ đúng lời hứa với TC ‘’bình chân như vại ‘’  thậm chí còn làm ngơ không cứu vớt  thuỷ thủ đoàn của HQ10 bị chìm , phải đào thoát  trên 4 chiếc bè nổi .

-    Về phản ứng của Quốc Tế :

   Trước việc TC dùng vũ lực để cướp HS của VN , Thế Giới ( kể cả những cường quốc ) đều đã làm ngơ hay thờ ơ hoặc  giả nhân , giả nghĩa phản kháng chiếu lệ , như họ đã từng làm khi TC xâm lăng Tây Tạng  năm 1959 .

-   Về phía CSBV :

   Rõ ràng là một  sự  phản bội Dân Tộc  . Vì quyền lợi riêng tư của Đảng CSVN , họ đã đem một phần giang sơn gấm vóc  do tiền nhân đã dày công  tạo được , triều cống cho kẻ thù truyền kiếp phưng Bắc . Chính Phạm văn Đồng - Thủ Tướng Bắc Việt , theo lệnh của Hồ Chí Minh , ngày 15   tháng  9  năm 1958 đã ký công hàm gửi cho Chu Ân Lai  (TTTC ) xác nhận việc hiến dâng   Hoàng Sa và Trường Sa cho TC ( dù rằng phân nửa quần đảo HS và quần đảo TS lúc đó do VNCH làm chủ )  .


   Rồi khi trận HCHS 19/ 01/1974  xảy ra , ở Trại David ( Tân Sơn Nhứt ) khi bị các ký giả chất vấn về thái độ  của Bắc Việt trước việc ‘’ Trung Cộng cưởng chiếm HS của  Việt Nam ‘’ , Võ Đông Giang - Phó Trưởng Đoàn Thương Thuyết 4 bên của Bắc Việt  đã ấp úng  trả lời : ‘’ việc đó chúng tôi sẽ thương lượng trên tình hữu nghị sau với TQ ‘’ .

  Mải đến năm 1979 , sau khi bị TC  dạy cho một bài học ở biên giới Hoa-Việt , CSVN mới muối mặt giở trò lật lọng như đã từng làm với VNCH ( năm 1968 , xé lệnh hưu chiến Tết , bất thần tổng tấn công 44 Tỉnh , Thành của Miền Nam . Năm 1973 , xé hiệp định Paris , xua quân vào cướp Miền Nam , tàn sát đồng bào ruột thịt ) ‘’phủ nhận chủ quyền của TC ở 2 quần đảo HS và TS  và cho rằng trước kia vì nhu cầu cần được TC viện trợ cho vũ khí để đánh Mỹ-Nguỵ  nên họ đã giả vờ lấy lòng TC ‘’ .
CSVN quen chơi trò gian xảo , lật lọng với VNCH và TGTD , nhưng với TC xuất thân cùng một lò Mác-Lê xảo quyệt  , thì  trò đó không có tác dụng .Sở dỉ , họ phải tuyên bố  phủ nhận công hàm bán nước trước kia  chỉ nhằm  lấp liếm , xoa dịu lòng công phẩn của tất cả người Việt không cùng trong cái đảng dòi bọ , bán nước  thôi .

   Nếu quả như họ ( CS ) đã thấy được  sự sai trái trước kia  thì tại sao ngày nay cả VN  đả nằm trong tay , không còn cần vũ khí để đánh Mỹ-Nguỵ nửa ,  gần đây họ lại cống thêm cho TC một phần Vịnh Bắc Việt và hàng nghìn cây số vuông đất vùng biên giới trong đó có cả Ải Nam Quan lịch sử  . Ngoài ra lại còn man rợ trấn áp bất cứ ai phê phán hay có ý kiến về sự luồn cúi của họ đối với kẻ thù phương Bắc .


    Trận HCHS 19 tháng 01 năm 1974 tính đến nay đã hơn 36 năm , nhưng vẫn còn là một thời sự nóng của người Việt : 
   -Vì nó liên quan đến việc Tổ Quốc Đang Lâm Nguy trước hoạ xâm lăng của Rợ Tàu Cộng .

   -Vì nó là niềm hảnh diện của tất cả người VN trong và ngoài nước , cùng chung một dòng giống , một dân tộc tuy bé nhỏ , nhưng từ nghìn xưa , luôn kiên cường , bất khuất trước bọn bành trướng phương Bắc .

   -Ngoài ra , nó cũng còn là một trang chiến sử hào hùng của QLVNCH -  một Quân Lực  non trẻ chỉ thành hình sau khi đất nước thoát ách đô hộ của thực dân Pháp năm 1954 .
Tuy non trẻ , quân số ít ỏi , phương tiện thiếu thốn .. .. ..nhưng dám hiên ngang đương đầu với TC có một đạo quân đông đảo nhất  thế giới mà ngay đến 2 siêu cường  Nga-Mỹ cũng luôn e dè , tránh né .

    Cuộc diện TG ngày nay cho thấy  không có một quốc gia nào có thể đơn độc sống , VN  muốn tồn tại cũng phải sống với nhưng phải dựa vào sức lực của Dân Tộc là chính .

    Đảng  CSVN , với đồng bào thì man rợ , với ngoại bang thì khiếp nhược , đê hèn , do đó chỉ khi nào họ sụp đổ  thì VN mới hy vọng  có dân chủ , tiến bộ và ấm no , hạnh phúc   .


                                                                                     Paris , cuối Đông 2010
                                                              Hải Quân TKD